Trước yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế, nông sản Việt Nam cần chuyển từ lợi thế sản lượng sang cạnh tranh bằng chất lượng, chế biến sâu và thương hiệu để nâng giá trị, mở rộng thị trường.
Quang cảnh Hội thảo.
Chuyển từ xuất khẩu sản lượng sang giá trị và thương hiệu
Ngày 4/9, tại Trung tâm Hội chợ và Triển lãm Sài Gòn (SECC), Vụ Phát triển thị trường nước ngoài, Bộ Công Thương phối hợp với Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP Hồ Chí Minh (ITPC) tổ chức Hội thảo “Nâng tầm giá trị nông sản và thực phẩm trong chuỗi cung ứng bền vững”. Hội thảo nằm trong chuỗi sự kiện “Kết nối chuỗi cung ứng hàng hóa quốc tế” - Viet Nam International Sourcing 2026, diễn ra từ ngày 3 đến 5/9 tại TP Hồ Chí Minh.
Theo số liệu của Cục Hải quan, năm 2025, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nông, thủy sản của Việt Nam đạt 41,27 tỷ USD, tăng 16,1% so với năm 2024 và chiếm 8,7% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Trong 7 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này đạt 24,58 tỷ USD, tăng 4,2% so với cùng kỳ. Nếu tính trên phạm vi toàn ngành nông, lâm, thủy sản, tổng kim ngạch xuất khẩu trong 7 tháng năm 2026 đạt gần 42,8 tỷ USD, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm 2025. GDP toàn ngành tăng khoảng 3,8 - 3,85%, cán cân thương mại duy trì mức xuất siêu khoảng 9,2 tỷ USD.
Bà Nguyễn Thảo Hiền, Phó Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường nước ngoài, Bộ Công Thương cho biết, xuất khẩu nông sản ngày càng giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế, mang về hàng chục tỷ USD mỗi năm, đóng góp vào tăng trưởng GDP và cân bằng cán cân thương mại. Việt Nam hiện nằm trong nhóm các quốc gia xuất khẩu gạo, cà phê, hạt điều, hồ tiêu và thủy sản hàng đầu thế giới, qua đó góp phần bảo đảm an ninh lương thực toàn cầu.
Các đại biểu trao đổi về các thông tin nâng tầm giá trị nông sản Việt trong xuất khẩu.
Trong những giai đoạn kinh tế gặp khó khăn, nhu cầu tại nhiều thị trường suy giảm, nông nghiệp tiếp tục thể hiện vai trò là một trong những trụ đỡ của nền kinh tế. Cơ cấu mặt hàng và thị trường xuất khẩu cũng từng bước thay đổi. Theo bà Nguyễn Thảo Hiền, xuất khẩu nông sản đang chuyển từ tư duy “tiêu thụ những gì mình có” sang “cung cấp những gì thị trường cần”, từ chú trọng sản lượng sang đề cao chất lượng, giá trị và uy tín thương hiệu.
Tuy nhiên, con đường mở rộng xuất khẩu ngày càng đối mặt với nhiều hàng rào kỹ thuật. Các thị trường lớn như Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ liên tục nâng yêu cầu về kiểm dịch động, thực vật, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, giảm phát thải và trách nhiệm môi trường. Những quy định như chống phá rừng của Liên minh châu Âu, cơ chế điều chỉnh carbon qua biên giới hay yêu cầu chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định đang tạo sức ép lớn lên doanh nghiệp.
Ông Sven Dekker, đồng sáng lập Công ty Viet Nam Food Europe BV tại Hà Lan cho biết, việc bảo đảm chuỗi cung ứng bền vững “từ hạt giống đến bàn ăn” là điều kiện quan trọng để nông sản Việt Nam tiếp cận thị trường châu Âu. Vì vậy, chính doanh nghiệp phải kiểm soát toàn bộ quá trình từ vùng nguyên liệu, sản xuất, thu hoạch, chế biến, bảo quản đến vận chuyển và phân phối. Mỗi công đoạn đều cần được ghi nhận bằng dữ liệu có thể kiểm tra, thay vì chỉ hoàn thiện hồ sơ khi hàng hóa chuẩn bị xuất khẩu.
Nông sản Việt Nam được giới thiệu đến các nhà mua hàng và hệ thống phân phối quốc tế.
Ông Lê Anh Hoàng, Phó Giám đốc ITPC cho biết, lợi thế cạnh tranh của nông sản Việt Nam hiện không còn chỉ nằm ở sản lượng hay giá bán thấp mà phụ thuộc vào khả năng đáp ứng tiêu chuẩn của từng thị trường, mức độ chế biến sâu và sức mạnh thương hiệu. Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mở rộng cơ hội xuất khẩu nhưng đồng thời buộc doanh nghiệp phải nâng cấp phương thức sản xuất, quản trị chất lượng và trách nhiệm xã hội.
Theo ông Lê Anh Hoàng, TP Hồ Chí Minh đang giữ vai trò trung tâm chế biến lương thực, thực phẩm lớn của cả nước, chiếm khoảng 30 - 35% giá trị sản xuất của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và khoảng 14 - 15% giá trị sản xuất công nghiệp cả nước. Thành phố không chỉ hướng đến vai trò thị trường tiêu thụ lớn mà còn đặt mục tiêu trở thành trung tâm kết nối vùng nguyên liệu, ứng dụng công nghệ cao, chế biến sâu và phân phối nông sản của toàn khu vực.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, TP Hồ Chí Minh đang triển khai Chương trình phát triển nông nghiệp đô thị giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 cùng chiến lược phát triển ngành chế biến lương thực, thực phẩm đến năm 2030. Trọng tâm là chuyển từ nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp thông minh, công nghệ cao và kinh tế tuần hoàn; khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng công nghệ sau thu hoạch, tận dụng phụ phẩm, giảm hao hụt và phát triển sản phẩm có giá trị gia tăng cao.
Ngoài ra, Thành phố cũng định hướng hoàn thiện chuỗi cung ứng lạnh, hệ thống kho bãi và hạ tầng logistics; tăng kết nối vùng nguyên liệu tại các địa phương với nhà máy chế biến, trung tâm thương mại và thị trường xuất khẩu. Các mô hình nhà máy xanh, giảm phát thải và sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế sẽ được ưu tiên hỗ trợ.
Trong 7 tháng năm 2026, ITPC đã tổ chức 71 chương trình xúc tiến thương mại và đầu tư trong và ngoài nước. Thời gian tới, đơn vị tiếp tục cung cấp thông tin thị trường, chính sách, quy định nhập khẩu; hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số, xây dựng thương hiệu, tham gia hội chợ, kết nối với nhà mua hàng và tiếp cận các hệ thống phân phối quốc tế.
Mở rộng thị trường qua các hệ thống phân phối hiện đại
Theo các chuyên gia kinh tế, ngoài thị trường truyền thống, thị trường Trung Đông được đánh giá là khu vực giàu tiềm năng nhờ quy mô nhập khẩu thực phẩm lớn và nhu cầu tìm kiếm nguồn cung mới. Đại diện các doanh nghiệp UAE, Tập đoàn Lulu và Lootah đánh giá cao năng lực cung ứng của Việt Nam. Tuy nhiên, để thâm nhập hiệu quả, doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ nhu cầu tiêu dùng, tiêu chuẩn Halal, quy cách bao bì, thời hạn bảo quản và phương thức làm việc của từng hệ thống phân phối.
Ông Jose Mestre, Giám đốc Trung tâm đào tạo ngành thực phẩm tươi sống thuộc Tập đoàn Central Retail cho biết, Đông Nam Á còn nhiều dư địa phát triển đối với nông sản và thực phẩm Việt Nam. Riêng tại Việt Nam, tăng trưởng kinh tế, lực lượng lao động trẻ, sự mở rộng của tầng lớp trung lưu và hệ thống bán lẻ hiện đại đang làm thay đổi nhu cầu tiêu dùng.
Mặt khác, người mua hiện không chỉ quan tâm đến giá bán mà còn chú trọng chất lượng, độ an toàn, sự tiện lợi, nguồn gốc sản phẩm và trách nhiệm môi trường của doanh nghiệp. Đây là những yếu tố nhà sản xuất phải tính đến ngay từ khi lựa chọn nguyên liệu, xây dựng quy trình sản xuất và thiết kế sản phẩm.
Các sản phẩm hàng hoá Việt Nam được phân phối đa số tại các hệ thống siêu thị.
Theo ông Jose Mestre, Central Retail hiện có hơn 330 trung tâm thương mại và cửa hàng, hoạt động tại 26 trong tổng số 34 tỉnh, thành phố. Hệ thống gồm 43 đại siêu thị GO!, 9 siêu thị Tops Market, các siêu thị phục vụ khu vực ngoại ô và mô hình mini go! tại nhiều địa phương. Khoảng 90% hàng hóa được phân phối trong hệ thống là hàng Việt Nam, tạo không gian để doanh nghiệp, hợp tác xã và nhà cung cấp địa phương tiếp cận người tiêu dùng.
Về lâu dài, để đưa sản phẩm hàng Việt vào hệ thống bán lẻ và duy trì vị trí lâu dài trên quầy hàng, nhà cung cấp Việt cần phải bảo đảm chất lượng đồng đều, sản lượng ổn định, giá cả hợp lý và khả năng giao hàng đúng thời hạn. Đối với bao bì cần cung cấp đầy đủ thông tin, có khả năng truy xuất nguồn gốc và phù hợp với nhu cầu sử dụng.
Đối với các doanh nghiệp cũng phải theo dõi dữ liệu bán hàng, xu hướng tiêu dùng và phản hồi của khách hàng để kịp thời điều chỉnh sản phẩm, thay vì giữ tư duy sản xuất trước rồi mới tìm đầu ra. Central Retail cho biết sẽ tiếp tục ưu tiên sản phẩm và nhà cung cấp địa phương, tổ chức các chương trình kết nối, đưa hàng Việt vào hệ thống phân phối và giới thiệu tại thị trường nước ngoài.
Các sản phẩm nông nghiệp đạt tiêu chuẩn chất lượng thu hút sự quan tâm của đối tác quốc tế.
Trong khi đó, đại diện Tổng công ty Rau quả, nông sản Vegetexco cho biết, những tiêu chuẩn mới của thị trường quốc tế tạo ra sức ép lớn nhưng cũng là động lực để doanh nghiệp đổi mới tư duy, tái cơ cấu sản xuất và đa dạng hóa thị trường. Khi doanh nghiệp chủ động vùng nguyên liệu, đầu tư chế biến sâu và xây dựng thương hiệu, nông sản Việt Nam sẽ giảm dần sự phụ thuộc vào một số thị trường hoặc đối tác truyền thống.
Theo các chuyên gia kinh tế, muốn nâng tầm xuất khẩu nông sản Việt, giải pháp lâu dài là hình thành liên kết chặt chẽ giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp chế biến, đơn vị logistics, cơ quan xúc tiến thương mại và hệ thống bán lẻ. Doanh nghiệp cần sản xuất theo tín hiệu thị trường, chuẩn hóa chất lượng ngay từ vùng nguyên liệu, ứng dụng truy xuất nguồn gốc số, phát triển chuỗi lạnh và đáp ứng các tiêu chuẩn xanh. Khi các mắt xích được kết nối đồng bộ, nông sản Việt Nam không chỉ mở rộng thị phần mà còn có thể nâng cao giá trị, xây dựng uy tín thương hiệu và tham gia bền vững hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.