05:17 11/05/2026

Nâng tầm đối ngoại nhân dân, lan tỏa sức mạnh Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Đối ngoại nhân dân đang trở thành kênh quan trọng lan tỏa hình ảnh Việt Nam, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc và mở rộng hợp tác quốc tế.

Ông Nguyễn Chí Thành, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban MTTQ tỉnh Quảng Ninh cho biết, Quảng Ninh là tỉnh địa đầu Đông Bắc của Tổ quốc, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đây cũng là địa phương duy nhất vừa có đường biên giới trên bộ, vừa có đường biên giới trên biển với Trung Quốc, đồng thời là cửa ngõ kết nối vùng Đông Bắc với khu vực và quốc tế.

Chú thích ảnh

Từ đặc điểm đó, tỉnh xác định công tác đối ngoại nhân dân không chỉ là nhiệm vụ thường xuyên, mà còn là yêu cầu mang tính chiến lược, gắn chặt với nhiệm vụ giữ vững chủ quyền, bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định, mở rộng hợp tác và thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững.

Thời gian qua, tỉnh Quảng Ninh đã chủ động tăng cường, làm sâu sắc quan hệ hợp tác với các địa phương của Trung Quốc, trọng tâm là Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây. Hai bên đã ký kết 5 biên bản hội đàm và 11 bản ghi nhớ hợp tác trên nhiều lĩnh vực, tạo nền tảng quan trọng thúc đẩy toàn diện các hoạt động giao lưu, hợp tác, trong đó có đối ngoại nhân dân. Theo ông Nguyễn Chí Thành, đây là một trong những mô hình tiêu biểu cấp địa phương trong triển khai đối ngoại nhân dân với các nước láng giềng.

Bên cạnh đó, tỉnh tiếp tục duy trì và mở rộng quan hệ với các địa phương như: Phúc Kiến, Quảng Đông, Vân Nam, Hải Nam, góp phần củng cố tình hữu nghị và thúc đẩy hợp tác theo hướng thực chất, ổn định, lâu dài.

Tiêu biểu, tháng 3/2026, trong khuôn khổ Giao lưu hữu nghị Quốc phòng biên giới Việt Nam - Trung Quốc lần thứ 10, tổ chức tại tỉnh Quảng Ninh và Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc)...

Chú thích ảnh
Nâng tầm đối ngoại nhân dân góp phần phát huy sức mạnh mềm quốc gia, góp phần đưa Việt Nam vững bước trong kỷ nguyên phát triển mới.

Cùng với đó, phong trào kết nghĩa cụm dân cư hai bên biên giới tiếp tục được duy trì và phát huy hiệu quả, với 10 cặp thôn, bản của Quảng Ninh kết nghĩa với 7 thôn, bản của Quảng Tây (Trung Quốc) và 2 xã của huyện Bình Liêu (cũ) kết nghĩa với trấn Động Trung, Khu Phòng Thành. 

Hai bên đã triển khai nhiều nội dung hợp tác thiết thực như tuyên truyền chấp hành các văn kiện pháp lý về biên giới; phối hợp bảo vệ chủ quyền, giữ gìn an ninh trật tự, phòng chống tội phạm; tăng cường giao lưu, hỗ trợ phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai, dịch bệnh và xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh từ cơ sở.

Hiện nay, tỉnh Quảng Ninh có khoảng 15.650 người đang sinh sống, học tập và làm việc tại 38 quốc gia, vùng lãnh thổ, với hơn 6.000 hộ gia đình thân nhân kiều bào. Thông qua vai trò cầu nối, MTTQ các cấp đã phối hợp với các tổ chức thành viên đẩy mạnh tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; góp phần nâng cao nhận thức, khơi dậy tinh thần đoàn kết, lòng tự hào dân tộc, vận động kiều bào hướng về xây dựng quê hương, đất nước…

Từ thực tiễn của tỉnh Quảng Ninh, ông Nguyễn Chí Thành rút ra một số bài học kinh nghiệm. Trước hết, cần quán triệt sâu sắc nhận thức rằng đối ngoại nhân dân là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, trong đó Mặt trận giữ vai trò nòng cốt trong tập hợp, đoàn kết, điều phối và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc gắn với sức mạnh thời đại.

Bên cạnh đó, công tác đối ngoại nhân dân phải gắn chặt với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền; xây dựng khu vực biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đồng thời chú trọng xây dựng các mô hình thiết thực từ cơ sở, nhất là tại địa bàn biên giới, vùng đồng bào dân tộc và khu vực có yếu tố đối ngoại thường xuyên.

Song song với đó là yêu cầu chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong phương thức triển khai; kết hợp hài hòa giữa giao lưu hữu nghị, hợp tác thực chất, thông tin đối ngoại và vận động, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè quốc tế cũng như đồng bào ta ở nước ngoài.

Đặc biệt, cần quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại nhân dân có bản lĩnh chính trị vững vàng, kỹ năng và kiến thức chuyên sâu, am hiểu địa bàn, đối tượng và văn hóa; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, đổi mới công tác thông tin đối ngoại theo hướng hiện đại, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu tình hình mới.

“Chúng tôi càng nhận thức sâu sắc rằng, đối ngoại nhân dân là lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược; là nơi Mặt trận thể hiện rõ vai trò tập hợp, đoàn kết, kết nối, lan tỏa và củng cố niềm tin. Đồng thời là cầu nối giữa lòng dân với lòng dân, giữa Việt Nam với bạn bè quốc tế và đồng bào ta ở nước ngoài. Phát huy tốt vai trò đó sẽ góp phần trực tiếp giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển đất nước, đồng thời nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế”, ông Nguyễn Chí Thành nhấn mạnh.

Chú thích ảnh

Hơn 40 năm công tác tại Liên bang Nga, ông Nguyễn Quốc Sỹ, Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội Các trường đại học và cao đẳng Việt Nam đã đề xuất hai kiến nghị nhằm thu hút hiệu quả đội ngũ trí thức, chuyên gia người Việt Nam ở nước ngoài, cũng như chuyên gia quốc tế tham gia đóng góp cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Ông Quốc Sỹ cho biết, trong thời gian sống và làm việc ở nước ngoài, ông thường xuyên theo dõi những đổi thay đáng mừng của đất nước, đặc biệt là công tác đối ngoại nhân dân và việc tập hợp trí thức, người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là sau khi có Nghị quyết 36, tạo hành lang thuận lợi cho nhiều hoạt động của Mặt trận trong việc kết nối đội ngũ trí thức kiều bào. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ chế thông thoáng, cởi mở, vẫn còn nhiều vấn đề cần suy nghĩ và nhìn nhận lại.

Hiện nay, số lượng trí thức người Việt Nam ở nước ngoài ước khoảng 600.000 người trong tổng số khoảng 6 triệu kiều bào sinh sống trên khắp các vùng lãnh thổ. Đây là nguồn lực rất lớn, phân bố tại nhiều quốc gia phát triển mạnh về khoa học,  công nghệ như Hoa Kỳ, các nước châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc… Nếu tận dụng được dù chỉ một phần nhỏ lực lượng này tham gia các dự án phát triển của đất nước thì đó sẽ là thành công rất đáng kể.

Tuy nhiên, qua nhiều năm quan sát, ông cho rằng số lượng trí thức người Việt Nam ở nước ngoài thực sự về nước tham gia các dự án khoa học, công nghệ vẫn còn rất hạn chế. Không ít trường hợp về nước làm việc một thời gian rồi lại quay trở lại nước ngoài. Dù có nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng kết quả thực tế này cho thấy cần phải nghiêm túc xem xét lại cách thức tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức kiều bào.

Chú thích ảnh
Các đại biểu tham dự phiên thảo luận chiều 11/5.

Theo ông Nguyễn Quốc Sỹ, không nên chỉ nhìn vào số lượng hay tiềm năng, mà cần đánh giá bằng hiệu quả đóng góp cụ thể của đội ngũ trí thức người Việt Nam ở nước ngoài đối với các dự án khoa học, công nghệ của đất nước trong suốt thời gian qua.

Sau khi Nghị quyết 57 được ban hành, cả hệ thống chính trị đã vào cuộc với quyết tâm cao, đặt ra nhiều mục tiêu trong việc thu hút, tập hợp lực lượng trí thức kiều bào nhằm phục vụ các dự án lớn của quốc gia. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển ngày càng cấp thiết, ông bày tỏ sự trăn trở và cho rằng cần đổi mới tư duy, đổi mới phương thức triển khai. Nhiệm vụ không thay đổi, nhưng cách làm phải khác thì mới đạt hiệu quả thực chất.

Ông Quốc Sỹ đề nghị MTTQ Việt Nam cần đóng vai trò nòng cốt trong việc tập hợp đội ngũ trí thức người Việt Nam ở nước ngoài phục vụ các dự án khoa học, công nghệ, công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Việc tổ chức thực hiện cần đi vào chiều sâu, tiếp cận cụ thể tới từng nhà khoa học, từng chuyên gia. Nếu chỉ dừng ở hình thức chung chung như hoạt động đoàn thể thông thường thì hiệu quả sẽ không cao. Theo ông, xét tổng thể, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức phù hợp nhất để khai thác hiệu quả nguồn lực đặc biệt này.

Bên cạnh đó, ông Nguyễn Quốc Sỹ cũng góp ý rằng lâu nay chúng ta thường nhấn mạnh việc thu hút trí thức người Việt Nam ở nước ngoài về nước làm việc, nhưng lại chưa chú trọng đúng mức tới việc thu hút trí thức và nhà khoa học nước ngoài đến Việt Nam. Đây không phải vấn đề mới, bởi nhiều quốc gia phát triển đã thực hiện chính sách này từ rất sớm và đạt được thành công lớn nhờ thu hút nhân tài quốc tế.

Theo ông, trong bối cảnh nguồn lực khoa học, công nghệ trong nước còn hạn chế, trong khi các dự án phát triển ngày càng quy mô và phức tạp, việc mở rộng thu hút đội ngũ trí thức nước ngoài là hết sức cần thiết. Nếu các nhà khoa học quốc tế mong muốn đến Việt Nam sinh sống, làm việc và đóng góp, chúng ta cần chủ động tạo điều kiện thuận lợi nhất để họ có thể cống hiến lâu dài cho sự phát triển của đất nước.

Hồng Phượng - Lê Phú/ Báo Tin tức và Dân tộc