Tuần trước, Bộ trưởng Chiến tranh Mỹ Pete Hegseth đã phải “cầu viện” Quốc hội để xin gần 1,5 nghìn tỷ USD chi tiêu quân sự bổ sung.
Tên lửa hành trình Tomahawk được phóng ở ngoài khơi Bahamas. Ảnh tư liệu: AFP/TTXVN
Theo tờ The Telegraph ngày 6/5, phần trình bày của ông Hegseth cho thấy ông và Lầu Năm Góc đang thực sự cần tiền.
Phân tích của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) chỉ rõ cuộc chiến với Iran đã làm cạn kiệt nghiêm trọng kho dự trữ một số vũ khí quan trọng và đắt đỏ nhất trong kho vũ khí phòng thủ của Mỹ.
Trong 38 ngày chiến sự trước khi ngừng bắn, Mỹ đã chi ít nhất 25 tỷ USD để phóng lượng lớn đạn dược vào 13.000 mục tiêu của Iran và bắn hạ tên lửa, thiết bị bay không người lái của Iran.
Với một số vũ khí chủ lực như tên lửa Patriot, tên lửa đánh chặn THAAD và tên lửa hành trình Tomahawk, Mỹ đã sử dụng từ một phần ba đến một nửa kho dự trữ. Thời gian để bổ sung lại kho này có thể kéo dài 4 đến 5 năm.
Các nhà sản xuất vũ khí cũng không muốn tăng tốc sản xuất, cho đến khi Quốc hội Mỹ phê duyệt ngân sách.
Trong khi đó, các đồng minh của Mỹ ở châu Âu và châu Á lo ngại khi Lầu Năm Góc chuyển sang Trung Đông các hệ thống phòng thủ quan trọng mà vốn trước đây được dùng để bảo vệ các khu vực này.
Tổng thống Donald Trump nói vào ngày 1/5: “Trên khắp thế giới, chúng ta có dự trữ và có thể điều chuyển khi cần”.
Không chỉ là việc vũ khí và sức mạnh quân sự Mỹ rời khỏi các khu vực này. Các đồng minh cũng lo ngại kho dự trữ của họ sẽ bị ảnh hưởng khi Lầu Năm Góc thiếu vũ khí.
Mỹ đang âm thầm thông báo với Nhật Bản, Estonia, Litva, Ba Lan và cả Anh rằng họ sẽ phải xếp cuối hàng, chờ nhiều tháng hoặc nhiều năm mới nhận được các thiết bị quân sự đã đặt mua.
Ông Mark Cancian, cựu đại tá Thủy quân Lục chiến làm việc tại CSIS, cho biết: “Có thể họ sẽ phải chờ lâu hơn. Có nguy cơ Mỹ bị coi là nhà cung cấp không đáng tin cậy, khiến các đồng minh và đối tác chuyển sang nơi khác”.
Tình trạng kho vũ khí và tốc độ sản xuất của Mỹ
Phân tích của ông Cancian dựa trên báo cáo CSIS cho thấy bức tranh khác và đáng lo ngại hơn.
Đứng đầu danh sách cần bổ sung là tên lửa hành trình Tomahawk. Mỹ đã bắn hơn 1.000 quả Tomahawk (mỗi quả trị giá 2,6 triệu USD) vào mục tiêu Iran trong những tuần đầu chiến sự. Con số này cao gấp hơn 10 lần lượng mua hàng năm.
Mỹ hiện còn khoảng 2.000 quả trong kho. Nhà sản xuất RTX đã cam kết với Nhà Trắng sẽ tăng công suất lên hơn 1.000 quả mỗi năm.
Tuy nhiên, các báo cáo cho biết, Mỹ đã hoãn giao lô 400 tên lửa Tomahawk đã đặt trước cho Nhật Bản.
RTX cũng sản xuất tên lửa đánh chặn Standard Missile (SM), dùng để bắn hạ tên lửa đạn đạo từ các bệ phóng trên tàu. Hơn một nửa số SM-3 và khoảng một phần ba SM-6 của Lầu Năm Góc có thể đã được triển khai trong chiến dịch Iran.
Công ty này cho biết, sẽ tăng sản lượng SM-6 lên hơn 500 quả mỗi năm, mỗi quả trị giá hơn 5 triệu USD.
Mỹ cũng đã phóng khoảng 1.100 tên lửa JASSM - loại tên lửa tầm xa phóng từ máy bay có khả năng tàng hình. Con số này chiếm từ một phần tư đến một nửa kho dự trữ và cần khoảng 4 năm để thay thế hoàn toàn.
Hệ thống phòng thủ tên lửa tầm cao giai đoạn cuối (THAAD) của Mỹ. Ảnh tư liệu: AFP/TTXVN
Một trong những thiếu hụt nghiêm trọng nhất có thể là tên lửa đánh chặn THAAD, được các đồng minh vùng Vịnh sử dụng để bắn hạ tên lửa đạn đạo Iran.
Mỹ chỉ có 8 hệ thống và đã điều chuyển nhiều hệ thống sang Trung Đông, bao gồm cả các bộ phận thuộc các hệ thống đặt tại Hàn Quốc.
Khoảng 50 - 80% kho dự trữ đã được sử dụng. Lockheed Martin nói sẽ tăng sản lượng lên 400 quả/năm (từ mức 96 hiện nay), nhưng sẽ chưa có lô giao hàng mới trong ít nhất một năm. Mỗi quả trị giá hơn 15 triệu USD.
Tiếp đến là hệ thống Patriot, có thể phóng từ mặt đất để đánh chặn tên lửa và máy bay, đang được 18 quốc gia sử dụng.
Mỹ ước tính có 2.330 tên lửa Patriot trước chiến tranh với Iran, mỗi quả trị giá 3,9 triệu USD. Mỹ đã phóng tới 1.430 quả tại vùng Vịnh.
Lockheed Martin cam kết tăng sản lượng Patriot lên 2.000 quả/năm vào năm 2030, từ mức 600 hiện tại. Thông thường, khoảng một nửa sản lượng được chuyển cho đồng minh hoặc đối tác của Mỹ, bao gồm Ukraine, nhưng điều này có thể thay đổi.
Nhóm phân tích CSIS cho biết: “Cho đến khi có số vũ khí sản xuất thêm này, Mỹ sẽ phải lựa chọn cách phân bổ để đáp ứng nhu cầu”.
Lo ngại của đồng minh
Ukraine cũng rất cần tên lửa Precision Strike Missile (PrSM). Có thông tin là toàn bộ 90 quả trong kho của Mỹ đã được sử dụng ở Iran, mỗi quả trị giá 1,6 triệu USD, dù CSIS ước tính con số thực tế là 40 - 70 quả.
Lockheed Martin dự kiến sản xuất 400 quả/năm, nhưng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky khó có thể đứng đầu danh sách phân bổ.
Vì Mỹ có xu hướng ưu tiên bổ sung kho dự trữ của chính mình, nhiều đồng minh có thể sẽ bắt đầu tự sản xuất vũ khí hoặc mua từ nguồn khác.
Nhật Bản đã phát tín hiệu sẵn sàng tăng xuất khẩu vũ khí sang đồng minh sau khi dỡ bỏ lệnh cấm kéo dài đối với xuất khẩu vũ khí sát thương vào tháng trước. Thụy Sĩ đang xem xét phương án thay thế Patriot sau khi bị thông báo đơn hàng có thể bị trì hoãn. Tuy nhiên, ông Cancian cảnh báo rằng tìm được giải pháp tương đương sẽ rất khó.
Các quốc gia vùng Vịnh có thể là nhóm ít lo ngại hơn về kho dự trữ sau chiến tranh với Iran. Mỹ đã đẩy nhanh tiến độ giao vũ khí trị giá 9 tỷ USD cho Israel, Kuwait, Qatar và Các tiểu vương quốc Arab thống nhất, gồm rocket dẫn đường bằng laser, tên lửa đánh chặn và Patriot.
Trong khi đó, các đồng minh châu Á lo ngại khi Mỹ chuyển nguồn lực quân sự sang vùng Vịnh, không chỉ vũ khí mà cả nhóm tàu sân bay USS Abraham Lincoln và hơn 4.000 lính thủy đánh bộ.
Ngoài số vũ khí tiêu hao, còn có hàng chục máy bay bị bắn rơi, căn cứ quân sự và radar bị hư hại trong khu vực, cùng chi phí vận hành khi điều động phần lớn hải quân Mỹ tới vùng Vịnh.
Do đó, đề xuất 1,5 nghìn tỷ USD của Bộ trưởng Hegseth sẽ làm tăng chi tiêu quốc phòng hơn 40%, gây áp lực đáng kể lên ngân sách công vốn đã căng thẳng của Mỹ.
Tuy nhiên, tiền không thể giải quyết toàn bộ vấn đề. Thực tế là Tổng thống Trump đã phóng tên lửa với tốc độ nhanh hơn nhiều so với khả năng sản xuất của ngành công nghiệp quốc phòng Mỹ.