03:08 18/03/2026

Mỹ cạn phương án giảm thiểu tác động của cú sốc dầu do cuộc chiến với Iran

Các công cụ chính sách dần cạn kiệt khi khủng hoảng kéo dài, buộc Mỹ đối mặt rủi ro kinh tế và chính trị nghiêm trọng từ giá nhiên liệu tăng cao.

Chú thích ảnh
Tàu chở dầu khí tự nhiên hóa lỏng di chuyển qua eo biển Hormuz về tới cảng Mundra ở Kutch, Ấn Độ ngày 16/3/2026. Ảnh: ANI/TTXVN

Bình luận với tạp chí Modern Diplomacy ngày 16/3, Sana Khan, nhà phân tích và nghiên cứu chính trị cho rằng, khi cuộc chiến với Iran bước sang tuần thứ ba, Mỹ đang nhanh chóng cạn kiệt các công cụ hiện có để giảm thiểu tác động lên thị trường dầu mỏ toàn cầu. Điều này làm dấy lên lo ngại rằng xuất khẩu năng lượng từ Trung Đông có thể gián đoạn kéo dài, gây suy thoái kinh tế toàn cầu sâu rộng hơn.

Cú sốc nguồn cung chưa từng có

Kể từ khi eo biển Hormuz - một trong những điểm nghẽn hàng hải quan trọng nhất đối với thương mại năng lượng toàn cầu - bị đóng cửa, khoảng 15% nguồn cung dầu mỏ thế giới vẫn đang bị mắc kẹt ở Vịnh Ba Tư. Lãnh Tụ Tối cao mới của Iran Mojtaba Khamenei tuyên bố eo biển sẽ tiếp tục "đóng cửa" trong bối cảnh Tehran tìm cách gây áp lực chiến lược lên Mỹ và Israel.

Mặc dù chính quyền Iran gợi ý rằng từng quốc gia có thể phối hợp hoạt động hàng hải với hải quân Iran, nhưng sự không chắc chắn xung quanh các thỏa thuận như vậy đã khiến hầu hết các công ty vận tải biển thương mại ngần ngại. Washington cũng thừa nhận rằng Hải quân Mỹ hiện không có khả năng cưỡng chế mở lại tuyến đường thủy này trong ngắn hạn, trong khi bất kỳ chiến dịch quân sự phối hợp nào để mở lại eo biển này cũng sẽ cần nhiều tuần để tổ chức.

Để ứng phó, Saudi Arabia đang chuyển hướng tới 5 triệu thùng dầu thô mỗi ngày đến cảng xuất khẩu Biển Đỏ tại Yanbu, còn Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) đang chuyển hướng các lô hàng qua cảng Fujairah bên ngoài vùng Vịnh. Tuy nhiên, ngay cả với những điều chỉnh đó, khoảng 15 triệu thùng dầu thô mỗi ngày từ Trung Đông vẫn không thể tiếp cận thị trường quốc tế - một cú sốc nguồn cung chưa từng có trong hệ thống dầu mỏ thời hậu Thế chiến II. Hệ quả tức thời là giá dầu Brent vượt ngưỡng 100 USD/thùng, trong khi giá dầu diesel và nhiên liệu máy bay tăng mạnh hơn nữa.

Trong các đợt gián đoạn nguồn cung trước đây, thị trường toàn cầu từng dựa vào năng lực sản xuất dự phòng của OPEC+ để ổn định giá cả. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng lần này đã phơi bày những hạn chế của cơ chế đó. Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), công suất dự phòng toàn cầu trước chiến tranh (ngày 28/2) vào khoảng 3,9 triệu thùng mỗi ngày, trong đó riêng Saudi Arabia chiếm khoảng 1,7 triệu thùng. Song do các tuyến xuất khẩu trong khu vực bị gián đoạn, phần lớn công suất dư thừa đó không thể tiếp cận thị trường toàn cầu một cách dễ dàng.

Mỹ triển khai mọi công cụ chính sách sẵn có

Trước áp lực chính trị từ giá nhiên liệu tăng vọt, chính quyền Tổng thống Trump đã sử dụng gần như toàn bộ các công cụ chính sách hiện có. Về dự trữ chiến lược, IEA công bố kế hoạch phối hợp giải phóng 400 triệu thùng dầu từ kho dự trữ khẩn cấp của các nước thành viên - đây là đợt giải phóng lớn nhất trong lịch sử cơ quan này. Mỹ đóng góp phần lớn nhất với 172 triệu thùng từ Kho dự trữ dầu chiến lược, khiến Washington chỉ còn khoảng 100 triệu thùng có thể dễ dàng khai thác do các hạn chế kỹ thuật và vận hành.

Về lệnh trừng phạt, Washington ban hành các miễn trừ tạm thời cho phép các quốc gia mua dầu thô của Nga đang lênh đênh trên biển, vốn bị trừng phạt; một miễn trừ riêng cũng được cấp cho Ấn Độ. Theo công ty phân tích vận tải biển Kpler, tính đến giữa tháng 3 này, các tàu chở dầu của Nga đang nắm giữ khoảng 245 triệu thùng - gần tương đương khối lượng dầu Trung Đông bị hạn chế kể từ khi eo biển Hormuz bị phong toả.

Tuy nhiên, tác động thực tế có thể nhỏ hơn, vì Trung Quốc, Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ đã mua lượng lớn dầu Nga bất chấp lệnh trừng phạt, nghĩa là việc miễn trừ khó có thể giải phóng thêm nguồn cung mới đáng kể. Ngoài ra, các biện pháp bổ sung đang được xem xét gồm tạm thời đình chỉ Đạo luật Jones để cho phép tàu nước ngoài vận chuyển nhiên liệu giữa các cảng Mỹ, cho phép bán xăng mùa đông vào mùa hè và giảm thuế nhiên liệu - dù tác động trực tiếp của chúng đến giá dầu thô được nhận định là hạn chế.

Châu Á đối mặt thiếu hụt nghiêm trọng

Khi nguồn cung bị gián đoạn không thể được bù đắp hoàn toàn, giá cao sẽ dẫn đến mức tiêu thụ thấp hơn - hiện tượng được gọi là suy giảm nhu cầu. Châu Á được dự báo chịu ảnh hưởng nặng nề nhất vì khu vực này nhập khẩu khoảng 60% lượng dầu thô từ Trung Đông. Do hành trình vận chuyển từ vùng Vịnh đến châu Á thường mất khoảng một tháng, tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng nhất được dự báo sẽ chỉ bắt đầu xuất hiện trong những tuần tới. Nhật Bản, Ấn Độ, Thái Lan đã bắt đầu cắt giảm công suất các nhà máy lọc dầu, đồng thời triển khai các chính sách giảm tiêu thụ nhiên liệu như khuyến khích làm việc từ xa, giảm sử dụng năng lượng nơi công cộng.

Cuộc khủng hoảng hiện nay cho thấy hệ thống dầu mỏ toàn cầu vẫn còn rất mong manh bất chấp nhiều thập kỷ nỗ lực đa dạng hóa nguồn cung. Việc đóng cửa eo biển Hormuz đã làm quá tải mọi biện pháp bảo vệ sẵn có. Ngay cả đợt giải phóng dự trữ khẩn cấp chưa từng có tiền lệ cũng chỉ có thể "câu giờ" chứ không giải quyết được sự thiếu hụt nguồn cung cơ bản.

Nếu tình trạng gián đoạn tiếp diễn, thế giới có thể đối mặt với kịch bản khủng hoảng dầu mỏ kinh điển: giá cả tăng cao làm chậm hoạt động kinh tế và buộc các chính phủ phải phân bổ hạn chế tiêu thụ nhiên liệu. Đối với Washington, rủi ro chính trị đặc biệt cao khi giá xăng tăng cao từ trước đến nay luôn gây hậu quả nặng nề cho các chính quyền Mỹ, trong khi danh sách lựa chọn chính sách ngày càng thu hẹp khiến Nhà Trắng ngày càng dễ bị tổn thương trước sự hỗn loạn năng lượng toàn cầu do chính cuộc chiến này gây ra.

Công Thuận/Báo Tin tức và Dân tộc