07:20 18/07/2026

Mở không gian phát triển mới cho ngành văn hóa trên môi trường số

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 277/2026/NĐ-CP về Hạ tầng văn hóa số, đặt nền móng ban đầu cho việc phát triển hạ tầng văn hóa số và quy định nhiều nội dung quan trọng cho phát triển và quản lý Nhà nước về văn hóa.

Nếu như hạ tầng giao thông kết nối con người và hàng hóa, hạ tầng số kết nối dữ liệu và tri thức, hạ tầng văn hóa số chính là hạ tầng chuyên ngành kết nối bản sắc dân tộc với sáng tạo, kinh tế và sức mạnh mềm quốc gia.

Nghị định quy định chi tiết việc phát triển hạ tầng văn hóa số, bao gồm 3 thành phần cơ bản: Hạ tầng số; hạ tầng dữ liệu văn hóa số; nền tảng số, hệ thống số, công cụ số phục vụ lợi ích công cộng.

Không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực cốt lõi, hạ tầng này sẽ được dùng chung và gắn kết để thúc đẩy phát triển đồng bộ cả lĩnh vực du lịch và thể thao.

Chú thích ảnh
Nghị định về Hạ tầng văn hóa số, mở không gian phát triển mới cho ngành văn hóa trên môi trường số.

Nghị định bao gồm 5 chương và 20 điều, áp dụng đối với mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia vào hệ sinh thái văn hóa số tại Việt Nam. Đặc biệt, văn bản thể hiện tinh thần cải cách triệt để khi triệt tiêu các rào cản, không phát sinh thêm bất kỳ thủ tục hành chính phiền hà nào cho người dân và doanh nghiệp.

8 bước chuyển dịch chiến lược

Thay vì đi theo lối mòn đầu tư hạ tầng vật lý phân tán, Nghị định tập trung kiến tạo cơ chế để giải quyết 8 bài toán cốt lõi thông qua mô hình quản trị dựa trên dữ liệu. 

Thứ nhất, bảo tồn di sản trong bối cảnh biến đổi nhanh: Nhiều giá trị văn hóa đang đứng trước nguy cơ mai một do thời gian, thiên tai, đô thị hóa và sự thay đổi của đời sống xã hội. Hạ tầng văn hóa số giúp: Số hóa hiện vật, di tích, tư liệu, nghệ thuật biểu diễn; lưu trữ lâu dài theo chuẩn quốc tế; phục dựng bằng AI, 3D, XR khi hiện vật bị hư hỏng; tạo “bản sao số” (Digital Twin) của di sản. Nhờ đó, giá trị văn hóa không bị mất đi ngay cả khi hiện vật gốc bị hủy hoại.

Thứ hai, mở rộng khả năng tiếp cận văn hóa. Trước đây, người dân phải đến bảo tàng, thư viện, nhà hát. Khi có hạ tầng văn hóa số, mọi người có thể tham quan bảo tàng trực tuyến; học nghệ thuật trên nền tảng số; xem biểu diễn chất lượng cao; tra cứu di sản ở bất cứ đâu. Văn hóa trở thành dịch vụ công số phục vụ toàn dân.

Thứ ba, tạo nguyên liệu cho AI và kinh tế sáng tạo: Trong thời đại AI, dữ liệu chính là nguyên liệu. Muốn AI hiểu văn hóa Việt Nam cần kho dữ liệu tiếng Việt; dữ liệu di sản; dữ liệu nghệ thuật; dữ liệu lễ hội; dữ liệu âm nhạc; dữ liệu trang phục; dữ liệu mỹ thuật…. Nếu không có hạ tầng dữ liệu văn hóa, AI sẽ học chủ yếu từ dữ liệu nước ngoài và khó phản ánh bản sắc Việt Nam.

Thứ tư, thúc đẩy công nghiệp văn hóa: Phim, trò chơi điện tử, hoạt hình, âm nhạc, thiết kế, quảng cáo, xuất bản… đều cần dữ liệu văn hóa. Một hạ tầng văn hóa số tốt sẽ giúp doanh nghiệp khai thác dữ liệu hợp pháp; tái sử dụng tài nguyên số; giảm chi phí sáng tạo; phát triển nhiều sản phẩm mới. Hạ tầng văn hóa số vì vậy giống như đường cao tốc của ngành công nghiệp văn hóa.

Thứ năm, xây dựng thương hiệu quốc gia: Ngày nay, sức mạnh quốc gia không chỉ nằm ở kinh tế mà còn ở sức hấp dẫn văn hóa. Các quốc gia thành công đều có hệ sinh thái số quảng bá văn hóa: Hàn Quốc với K-content; Nhật Bản với anime, manga; Trung Quốc với nền tảng văn hóa số và game. Việt Nam muốn xây dựng thương hiệu văn hóa số thì cần hạ tầng đủ mạnh để kết nối dữ liệu, nội dung và doanh nghiệp. Hạ tầng văn hoá số là nền tảng giúp phát triển thương hiệu văn hoá số Việt Nam: VietCreative và VietGames.

Thứ sáu, tạo thị trường văn hóa số minh bạch: Nếu không có hạ tầng thì khó xác định bản quyền; khó giao dịch tài sản số; khó chia sẻ doanh thu; khó bảo vệ nghệ sĩ và tác giả. Hạ tầng văn hóa số cho phép hình thành cơ sở dữ liệu bản quyền; định danh tác phẩm; sàn giao dịch tài sản văn hóa số; cơ chế thanh toán và phân chia lợi ích. Đây là nền tảng của kinh tế văn hóa số.

Thứ bảy, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Cơ quan quản lý có thể theo dõi hoạt động văn hóa theo thời gian thực; thống kê ngành công nghiệp văn hóa; đánh giá tác động chính sách; phân tích xu hướng tiêu dùng văn hóa; dự báo nhu cầu thị trường. Quản lý chuyển từ “kinh nghiệm” sang “quản trị dựa trên dữ liệu”.

Cuối cùng, bảo đảm chủ quyền văn hóa trên không gian số. Không gian mạng đang trở thành không gian văn hóa mới. Nếu Việt Nam không có hạ tầng của chính mình thì dữ liệu văn hóa nằm trên nền tảng nước ngoài; nội dung Việt Nam khó được ưu tiên; thuật toán nước ngoài quyết định khả năng tiếp cận của người dùng; nguy cơ lệ thuộc về dữ liệu và lan truyền các giá trị ngoại lai.

Đồng hành cùng doanh nghiệp, phát triển các "vườn ươm" sáng tạo

Để tạo bệ đỡ vững chắc, Nghị định xác lập danh mục công nghệ số ưu tiên phát triển bao gồm: Điện toán đám mây, điện toán biên, AI, dữ liệu lớn, bản sao số, chuỗi khối, VR/AR/XR, LiDAR, GIS, và BIM/HBIM.

Doanh nghiệp đầu tư, nghiên cứu, phát triển công nghệ số, sản phẩm công nghệ số cũng như các sản phẩm, dịch vụ văn hóa số sẽ được hưởng đầy đủ chính sách ưu đãi, hỗ trợ theo pháp luật hiện hành về đầu tư, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, công nghệ cao, công nghiệp công nghệ số và chuyển đổi số khi đáp ứng các tiêu chí tương ứng.

Song song đó, Nhà nước sẽ hỗ trợ phát triển thị trường, xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại, kết nối doanh nghiệp với các đơn vị văn hóa, nghệ thuật, hỗ trợ nghiên cứu và phát triển sản phẩm theo các chương trình được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Ngoài ra, mô hình Trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa được định danh pháp lý. Các trung tâm này được triển khai theo phương thức hợp tác giữa Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp; hoạt động theo mô hình đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp hoặc tổ chức hợp pháp khác mà không phát sinh thêm bộ máy, thủ tục pháp lý hay chính sách ưu đãi riêng ngoài khung luật hiện hành.

Được đặt linh hoạt tại các cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa, tổ hợp sáng tạo, cơ sở giáo dục hoặc thiết chế văn hóa, trung tâm sẽ thực hiện sứ mệnh cốt lõi là hỗ trợ sáng tạo nội dung số, phát triển sản phẩm, dịch vụ văn hóa số và kết nối cộng đồng sáng tạo với các cơ sở đào tạo, doanh nghiệp. Sự cộng hưởng này hứa hẹn sẽ biến nguồn tài nguyên văn hóa quý báu của cha ông thành động lực phát triển kinh tế sáng tạo mạnh mẽ và bền vững trong tương lai.

Nhà nước khuyến khích, thu hút các tập đoàn công nghệ, doanh nghiệp công nghệ số trong nước và nước ngoài đầu tư, hợp tác đầu tư, tài trợ, chuyển giao công nghệ, phát triển hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu, nền tảng số dùng chung, giải pháp công nghệ cao phục vụ bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa, phát triển công nghiệp văn hóa và sản phẩm, dịch vụ văn hóa số.

Những công nghệ số ưu tiên phát triển trong lĩnh vực văn hóa: (1) Điện toán đám mây (Cloud Computing); (2) Điện toán biên (Edge Computing); (3) Trí tuệ nhân tạo (AI); (4) Dữ liệu lớn (Big Data); (5) Bản sao số (Digital Twin); (6) Internet vạn vật (IoT); (7). Chuỗi khối (Blockchain); (8). Thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR), thực tế mở rộng (XR), trải nghiệm nhập vai (IR), thực tế hỗn hợp (MR); (9). Công nghệ quét ba chiều (LiDAR), trắc lượng ảnh (Photogrammetry), hệ thống thông tin địa lý (GIS), mô hình hóa thông tin (BIM/HBIM); (10) Công nghệ số khác theo quy định của pháp luật.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành bộ chỉ số để cơ quan chủ quản tự đánh giá hiệu quả hoạt động của Trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa; định kỳ hằng năm tổ chức xem xét, lựa chọn, tôn vinh mô hình thành công điển hình; hình thành và phát triển Mạng lưới trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa quốc gia.
Hồng Phượng/Báo Tin tức và Dân tộc