08:12 18/08/2026

Mô hình hợp tác 4P gỡ điểm nghẽn cho ngành dừa

Dù sở hữu vùng nguyên liệu dừa lớn nhất cả nước và có nhiều lợi thế phát triển chế biến, xuất khẩu, ngành dừa Vĩnh Long vẫn đang đối mặt với không ít rào cản về liên kết sản xuất, quy mô vùng nguyên liệu và yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường.

Chú thích ảnh
Lao động thực hiện công đoạn lột dừa phục vụ chế biến các sản phẩm dừa hữu cơ xuất khẩu tại Hợp tác xã Nông nghiệp Dịch vụ Thương mại Vạn Hưng, xã Bình Phú, tỉnh Vĩnh Long.

Các chuyên gia, doanh nghiệp và hợp tác xã cho rằng phát triển chuỗi giá trị theo mô hình hợp tác 4P (Public - Nhà nước, Private - Doanh nghiệp, Producer - Nhà sản xuất và Partnership - Đối tác) là hướng đi quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh của ngành hàng này.

Còn nhiều rào cản

Tỉnh Vĩnh Long hiện có 151 doanh nghiệp tham gia chế biến dừa, hình thành hệ sinh thái sản phẩm tương đối hoàn chỉnh, từ các sản phẩm truyền thống như nước dừa, cơm dừa nạo sấy đến các sản phẩm giá trị gia tăng cao như than hoạt tính, chỉ xơ dừa, mỹ phẩm và thực phẩm chức năng. Bên cạnh đó, tỉnh hiện có 36 hợp tác xã, 36 tổ hợp tác tham gia vùng sản xuất gắn với chuỗi giá trị, trên diện tích hơn 10.094 ha. Đây là những nền tảng quan trọng để địa phương phát triển ngành hàng dừa theo hướng hiện đại, gia tăng giá trị và mở rộng thị trường xuất khẩu.

Tuy nhiên, từ tình hình thực tế cho thấy chuỗi giá trị dừa vẫn còn nhiều hạn chế. Từ góc độ hợp tác xã, ông Ngô Hữu Sự - Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Dịch vụ Thương mại Vạn Hưng, xã Bình Phú, cho biết đơn vị hiện liên kết với gần 2.000 hộ nông dân trên hơn 1.200 ha dừa; trong đó dừa ta là giống chủ lực, mang lại nguồn thu nhập chính cho người dân địa phương.

Những năm gần đây, trước tác động ngày càng rõ của biến đổi khí hậu với tình trạng nắng nóng kéo dài, lượng mưa phân bố thất thường và xâm nhập mặn diễn biến phức tạp, hợp tác xã đã vận động các thành viên thay đổi phương thức canh tác theo hướng thích ứng. Người dân chủ động điều tiết nguồn nước theo mùa, sử dụng phân hữu cơ và phụ phẩm nông nghiệp để cải tạo đất, phủ gốc bằng tàu dừa khô nhằm giữ ẩm, đồng thời tăng cường quản lý sâu bệnh theo hướng sinh học để giảm chi phí đầu vào và nâng cao chất lượng vùng nguyên liệu.

Chú thích ảnh
Lao động thực hiện công đoạn lột dừa phục vụ chế biến các sản phẩm dừa hữu cơ xuất khẩu tại Hợp tác xã Nông nghiệp Dịch vụ Thương mại Vạn Hưng, xã Bình Phú, tỉnh Vĩnh Long.

Theo ông Ngô Hữu Sự, khó khăn lớn nhất hiện nay không còn nằm ở kỹ thuật sản xuất mà là thay đổi tập quán canh tác của nông dân. Việc yêu cầu các hộ ghi chép nhật ký sản xuất, tuân thủ quy trình kỹ thuật thống nhất và duy trì chất lượng đồng đều giữa các hộ vẫn cần nhiều thời gian hướng dẫn, giám sát. Bên cạnh đó, hợp tác xã còn gặp khó trong tiếp cận thông tin thị trường. Việc thiếu thông tin về nhu cầu thị trường, tiêu chuẩn chất lượng và biến động giá cả khiến nông dân vẫn phụ thuộc nhiều vào thương lái, làm giảm tính chủ động trong sản xuất và tiêu thụ.

Từ thực tiễn hoạt động, Hợp tác xã Vạn Hưng kiến nghị các cơ quan quản lý, ngành chức năng hỗ trợ đào tạo kỹ thuật canh tác thích ứng với biến đổi khí hậu, thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý vùng nguyên liệu và truy xuất nguồn gốc, đồng thời hỗ trợ hợp tác xã tiếp cận các tiêu chuẩn sản xuất hữu cơ phục vụ xuất khẩu. Hợp tác xã cũng mong muốn ngành chức năng, doanh nghiệp tăng cường chia sẻ thông tin thị trường, ký kết hợp đồng liên kết tiêu thụ dài hạn nhằm tạo sự ổn định cho người trồng dừa.

Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Thanh Bình, Trưởng Phòng Quản lý Vùng nguyên liệu Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Bến Tre (Betrimex) cho rằng, ngành dừa Việt Nam đang có nhiều cơ hội bứt phá khi kim ngạch xuất khẩu toàn ngành đã vượt 1,1 tỷ USD/năm vào năm 2024; trong đó, dừa tươi đạt khoảng 390 triệu USD. Đây là động lực để doanh nghiệp tiếp tục đầu tư mở rộng vùng nguyên liệu, phát triển chế biến sâu và mở rộng thị trường xuất khẩu.

Theo ông Bình, doanh nghiệp đang triển khai chương trình phát triển vùng nguyên liệu dừa hữu cơ liên kết tại 13 xã, với tỷ lệ đăng ký của người dân đạt hơn 102% kế hoạch. Cùng với đó, doanh nghiệp đầu tư dây chuyền chế biến hiện đại bằng công nghệ tiệt trùng UHT, nâng công suất chế biến lên khoảng 150 triệu lít sản phẩm mỗi năm; các sản phẩm nước dừa hiện đã có mặt tại hơn 70 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Hiệu quả của mô hình liên kết cũng được minh chứng qua sự hợp tác giữa Betrimex và Hợp tác xã Hưng Lễ. Đến nay, mô hình đã thu hút 869 thành viên tham gia với hơn 450 ha đạt chứng nhận Fairtrade (Thương mại công bằng). Thông qua cơ chế liên kết, quỹ phúc lợi của hợp tác xã đã tích lũy khoảng 5,3 tỷ đồng để đầu tư hạ tầng nông thôn và hỗ trợ an sinh xã hội cho xã viên. Doanh nghiệp cũng hỗ trợ hơn 44 tấn phân bón hữu cơ nhằm nâng cao chất lượng vùng nguyên liệu và giảm chi phí sản xuất.

Dù vậy, theo đại diện Betrimex, những rào cản lớn đối với ngành dừa vẫn là quy mô sản xuất nhỏ lẻ, bình quân chỉ từ 0,3 - 0,7 ha mỗi hộ, khiến việc áp dụng đồng bộ quy trình kỹ thuật và kiểm soát chất lượng gặp nhiều khó khăn. Cùng với đó, biến đổi khí hậu làm gia tăng tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng trái dừa. Giá nguyên liệu biến động mạnh cũng làm gia tăng nguy cơ đứt gãy các chuỗi liên kết bao tiêu, trong khi nhiều thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt các quy định về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và truy xuất nguồn gốc.

Nâng tầm ngành dừa

Chú thích ảnh
Lực lượng chức năng khảo sát hệ thống máy móc, thiết bị tại Hợp tác xã Nông nghiệp Dịch vụ Thương mại Vạn Hưng, xã Bình Phú, tỉnh Vĩnh Long.

Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Vĩnh Long, sau khi hợp nhất, Vĩnh Long trở thành địa phương có diện tích dừa lớn nhất cả nước. Đến nay, tỉnh có  hơn 122.800 ha dừa, chiếm khoảng 61% diện tích dừa cả nước; trong đó hơn 114.000 ha đang cho trái. Sản lượng năm 2025 đạt trên 1,3 triệu tấn.

Ông Hồng Ngọc Hưng, Phó Giám đốc Sở Tài chính tỉnh Vĩnh Long, kiêm Giám đốc Ban Quản lý Dự án Phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu tại Trà Vinh (CSAT Trà Vinh) cho biết, mặc dù có diện tích dừa lớn, song chuỗi giá trị ngành hàng vẫn còn không ít hạn chế như quy mô sản xuất nhỏ lẻ, liên kết giữa doanh nghiệp và hợp tác xã chưa bền vững, việc đáp ứng các tiêu chuẩn xuất khẩu và tiếp cận nguồn vốn còn gặp nhiều khó khăn.

Vì vậy, phát triển ngành hàng dừa trong giai đoạn mới không chỉ dừng ở việc mở rộng diện tích hay nâng sản lượng mà cần xây dựng chuỗi giá trị bền vững với sự tham gia của tất cả các chủ thể. Trong đó, mô hình liên kết 4P (Public - Nhà nước, Private - Doanh nghiệp, Producer - Nhà sản xuất và Partnership - Đối tác) được xem là giải pháp để giải quyết đồng bộ các vấn đề về vùng nguyên liệu, kỹ thuật, nguồn lực và thị trường.

Để hiện thực hóa mô hình này, Ban Quản lý Dự án CSAT Trà Vinh đang phối hợp với các sở, ngành, doanh nghiệp và hợp tác xã triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ phát triển chuỗi giá trị dừa. Trọng tâm là nâng cao năng lực quản trị cho các hợp tác xã, hỗ trợ nông dân áp dụng quy trình sản xuất đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu, thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý vùng nguyên liệu và truy xuất nguồn gốc, đồng thời tăng cường kết nối giữa hợp tác xã với doanh nghiệp để hình thành các chuỗi liên kết tiêu thụ ổn định.

Chú thích ảnh
Lao động thực hiện công đoạn lột dừa phục vụ chế biến các sản phẩm dừa hữu cơ xuất khẩu tại Hợp tác xã Nông nghiệp Dịch vụ Thương mại Vạn Hưng, xã Bình Phú, tỉnh Vĩnh Long.

Bên cạnh đó, tỉnh Vĩnh Long cũng đang triển khai nhiều chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể giai đoạn 2026-2030, tập trung vào đầu tư hạ tầng, kho bãi, nhà xưởng sơ chế, đào tạo nguồn nhân lực và hỗ trợ thu hút lao động có trình độ. Cùng với nguồn vốn tín dụng ưu đãi từ Quỹ Hỗ trợ phát triển Hợp tác xã tỉnh, các chính sách này được kỳ vọng sẽ góp phần tháo gỡ khó khăn về nguồn lực, giúp hợp tác xã mở rộng sản xuất, xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Theo ông Hồng Ngọc Hưng, khi Nhà nước tạo hành lang chính sách, doanh nghiệp đồng hành đầu tư và bao tiêu sản phẩm, hợp tác xã tổ chức tốt vùng nguyên liệu, còn các tổ chức tài chính hỗ trợ nguồn vốn, chuỗi giá trị dừa sẽ từng bước được hoàn thiện, nâng cao giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh của ngành hàng trên thị trường trong nước cũng như xuất khẩu.

Theo định hướng phát triển đến năm 2030, tỉnh Vĩnh Long đặt mục tiêu đưa cây dừa trở thành ngành hàng chủ lực với quy mô khoảng 132.000 ha, sản lượng khoảng 1,72 triệu tấn; nâng diện tích sản xuất hữu cơ lên khoảng 50% tổng diện tích trồng dừa, đồng thời mở rộng diện tích được cấp mã số vùng trồng. Địa phương cũng sẽ tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp chế biến sâu, phát triển các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, tăng cường nghiên cứu khoa học, chuyển đổi số, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường xuất khẩu.

Bài và ảnh: Thanh Hòa (TTXVN)