Hiện nay, Malaysia đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong đảm bảo an ninh lương thực, đặc biệt là tình trạng lạm phát.
Giá cả các mặt hàng thực phẩm thiết yếu thường biến động mạnh, gây ảnh hưởng nặng nề nhất đến các hộ gia đình có thu nhập thấp và trung bình. Năm 2024, giá trị nhập khẩu các sản phẩm nông nghiệp và thực phẩm của Malaysia đã lên tới gần 150 tỷ ringgit (38,20 tỷ USD). Đây là một con số rất lớn đối với một quốc gia có đất canh tác màu mỡ, khí hậu thuận lợi và kinh nghiệm phát triển ngành nông nghiệp trong hàng thập kỷ.
Đảm bảo an ninh lương thực: Ưu tiên cấp bách
Người dân mua sắm tại siêu thị ở Bentong, bang Pahang, Malaysia. Ảnh: AFP/TTXVN
Sự phụ thuộc này không chỉ đơn thuần là vấn đề kinh tế mà còn là yếu tố rủi ro nghiêm trọng, đặc biệt trong bối cảnh giá lương thực nhập khẩu phụ thuộc vào thị trường hàng hóa toàn cầu, biến động tiền tệ, các cú sốc liên quan đến khí hậu ở nước ngoài và chính sách xuất khẩu của các nước.
Nếu các nước xuất khẩu hạn chế xuất khẩu, các quốc gia phụ thuộc vào nhập khẩu sẽ nhận ra rằng tiền bạc không đủ để đảm bảo được nguồn cung. Do đó, việc mở rộng sản xuất lương thực trong nước đang là vấn đề thiết yếu. Ví dụ, việc giảm phụ thuộc vào thức ăn chăn nuôi gia cầm nhập khẩu sẽ làm giảm chi phí trên toàn bộ chuỗi cung ứng.
Các chính sách cải tiến nông nghiệp cũng sẽ giúp tăng năng suất mà không cần mở rộng diện tích đất, trong đó nông nghiệp đô thị và hệ thống thực phẩm ở vùng ven có thể rút ngắn chuỗi cung ứng và giúp ổn định giá cả. Thêm vào đó, Malaysia cần giảm thiểu tình trạng lãng phí thực phẩm - hiện ước tính lên tới hàng triệu tấn mỗi năm.
Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc Malaysia cần từ bỏ chiến lược phát triển công nghệ hay sự đổi mới, song sự đổi mới phải gắn liền với nhu cầu vật chất. Mặc dù AI có thể giúp tối ưu hóa hoạt động sản xuất, song không thể đảm bảo giúp người dân mua được thực phẩm với giá cả phải chăng.
Hiện nay, Chính phủ Malaysia đã nhận thức được vấn đề, đặc biệt là trong việc khẳng định tầm quan trọng của an ninh lương thực. Nhưng các chính sách được đưa ra dường như mang tính khẩu hiệu, lý thuyết nhiều hơn. Trong khi đó, các chiến lược phát triển công nghệ lại đang chiếm phần lớn chương trình nghị sự của chính phủ, đặc biệt là tham vọng số hóa hơn là về các mục tiêu nâng cao năng suất lúa hay đảm bảo ổn định chuỗi cung ứng rau quả.
Theo đó, Malaysia cần điều chỉnh lại chiến lược - không bác bỏ hoàn toàn hoạt động xuất khẩu hay lĩnh vực công nghệ, mà là thừa nhận tầm quan trọng của chuỗi cung ứng lương thực. Trong một thế giới mà hoạt động thương mại có thể bị chấm dứt bất kỳ lúc nào thì khả năng tự cung tự cấp lương thực cho người dân chính là sức mạnh.
Chủ quyền kỹ thuật số: Từ phụ thuộc đến tự chủ
Trong lĩnh vực công nghệ, Malaysia đang phải đối mặt với sự mất cân bằng càng rõ rệt. Malaysia đang thâm hụt thương mại dịch vụ với Mỹ lên tới 7 tỷ ringgit (1,78 tỷ USD). Các hệ thống máy móc, viễn thông của chính phủ, doanh nghiệp và trường đại học phụ thuộc rất nhiều vào các tập đoàn lớn như Microsoft và Google. Các nền tảng mạng xã hội và nhắn tin hiện đang bị chi phối bởi Meta và TikTok, trong khi đó hệ thống giao hàng bị kiểm soát bởi Grab. Các công ty này thu được lợi nhuận từ hoạt động quảng cáo, đồng thời định hình lại văn hóa truyền thông và thường xuyên không tuân theo các yêu cầu của chính phủ.
Sự trỗi dậy của AI có nguy cơ làm sâu sắc thêm sự phụ thuộc này. Khi AI được tích hợp vào hoạt động sản xuất, quản trị và ra quyết định thì toàn bộ hệ thống và lực lượng lao động có thể bị phụ thuộc vào các công cụ không kiểm soát được.
Cảng hàng hóa Penang ở Butterworth, Malaysia. Ảnh: AFP/TTXVN
Trong lịch sử, Malaysia thường hỗ trợ các công ty liên kết với chính phủ hoặc các doanh nghiệp có quan hệ về chính trị, từ đó cung cấp cho các công ty này khả năng độc quyền rồi gọi đó là phát triển quốc gia. Cho dù là các công ty độc quyền của nước ngoài hay trong nước, chúng cũng đều gây ra những hậu quả xấu về mặt kinh tế và làm suy yếu chủ quyền quốc gia. Thay vào đó, chính phủ cần xây dựng một hệ sinh thái đa dạng, bao gồm các công ty địa phương.
Một tín hiệu tích cực là AI đang hỗ trợ hiệu quả công việc lập trình, từ đó khiến chi phí phát triển phần mềm đã giảm mạnh. Những gì trước đây mất nhiều năm và hàng triệu USD thì giờ đây có thể được hoàn thành trong vài tuần, với chi phí thấp hơn nhiều. Các cường quốc như Trung Quốc, Ấn Độ, Nga đã đảm bảo được chủ quyền, quyền tự chủ trong việc xây dựng được hệ thống kỹ thuật số. Malaysia có thể làm được điều tương tự, với quy mô và chi phí rẻ hơn nhiều so với cách đây một thập kỷ.
Việc người dân mua sản phẩm của Malaysia không có nghĩa là họ sẽ chấp nhận các hệ thống kém chất lượng. Do đó, Malaysia cần xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao và tạo ra các sản phẩm tiềm năng xuất khẩu sang các quốc gia ASEAN và các quốc gia đang phải đối mặt với thách thức về chủ quyền kỹ thuật số.
Thách thức thực sự hiện nay không còn nằm ở vấn đề phát triển công nghệ, mà là ở việc áp dụng. Thay vì chỉ đơn thuần điều chỉnh hoặc chặn các nền tảng nước ngoài, đã đến lúc Malaysia cần tiến hành đấu thầu công khai về các giải pháp công nghệ do công ty địa phương phát triển như hệ thống email, công cụ soạn thảo, ứng dụng trò chuyện, nền tảng mạng xã hội và cơ sở hạ tầng thanh toán. Điều này sẽ giúp xây dựng năng lực của các công ty trong nước, đồng thời tiết kiệm hàng tỷ USD và ngăn chặn các công ty công nghệ nước ngoài áp đặt các điều khoản bất lợi.
Vấn đề chủ quyền hiện nay không chỉ đơn thuần là vấn đề biên giới và quốc kỳ. Đó còn là an ninh lương thực, dữ liệu, năng lượng, các nền tảng công nghệ và những hệ thống vô hình chi phối cuộc sống hàng ngày. Trong thế giới hiện nay, việc giả vờ như không nhận thấy điều đó không phải là thực dụng, mà là sự phủ nhận thực tế.