Chiều 24/8, Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng với tỷ lệ tán thành 94,60%.
Điểm đáng chú ý là luật hướng tới sự cân bằng giữa linh hoạt để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và chặt chẽ trong bảo đảm an toàn hệ thống, phòng ngừa rủi ro.
Linh hoạt trong điều hành, không nới lỏng giám sát
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Phạm Đức Ấn trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng. Ảnh: An Đăng/TTXVN
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Phạm Đức Ấn cho biết, về lĩnh vực phòng, chống rửa tiền, tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, Chính phủ đã điều chỉnh khoản 18, Điều 2, sửa đổi, bổ sung khoản 2, Điều 59 Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022 để làm rõ trách nhiệm kiểm tra, giám sát hoạt động phòng, chống rửa tiền của các bộ, ngành trên cơ sở kết quả đánh giá rủi ro quốc gia về phòng, chống rửa tiền.
Bên cạnh đó, tiếp thu ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ đã rà soát, chỉnh lý kỹ thuật đối với các dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa tại Điều 33a Luật Phòng, chống rửa tiền với ngôn ngữ trong sáng, rõ ràng hơn, đảm bảo thống nhất trong các quy định và thuận tiện trong quá trình thực hiện.
Đối với Luật Các tổ chức tín dụng, tiếp thu ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ đã chỉ đạo cho các cơ quan có liên quan nghiên cứu, hoàn thiện quy định về quyền, trách nhiệm, điều kiện, tiêu chí, nội dung hoạt động đại lý quản lý tài sản đảm bảo tại các văn bản quy phạm pháp luật về chứng khoán, doanh nghiệp đối với việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp để đảm bảo chi nhánh ngân hàng nước ngoài triển khai hoạt động này không xảy ra tình trạng gây nhầm lẫn cho khách hàng, xung đột lợi ích và kiểm soát rủi ro.
Một trong những nội dung đáng chú ý của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng là quy định về việc áp dụng tỷ lệ bảo đảm an toàn khác trong trường hợp nhằm thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Theo đó, không “quy định cứng” trong Luật các tiêu chí xác định trường hợp “để thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội”, cũng như phạm vi, điều kiện và thời hạn áp dụng. Nguyên nhân là các yêu cầu phát triển, danh mục dự án quan trọng, trọng điểm và điều kiện thực tế có thể thay đổi theo từng thời kỳ.
Cách tiếp cận này tạo dư địa chính sách cho cơ quan quản lý, giúp hệ thống ngân hàng có thể đáp ứng những yêu cầu phát triển mới mà không phải sửa đổi luật mỗi khi xuất hiện tình huống đặc thù.
Tuy nhiên, đi cùng với sự linh hoạt là yêu cầu kiểm soát chặt chẽ. Luật quy định các đối tượng thanh tra, giám sát ngân hàng phải xây dựng và thực hiện lộ trình để bảo đảm tuân thủ các tỷ lệ an toàn theo quy định. Đặc biệt, luật bổ sung quy định xác định rõ Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm thanh tra, giám sát các đối tượng thuộc diện áp dụng tỷ lệ an toàn khác. Đây là điểm quan trọng nhằm bảo đảm việc áp dụng cơ chế đặc thù không tạo ra khoảng trống quản lý.
Như vậy, Luật được xây dựng theo hướng linh hoạt về cơ chế nhưng không buông lỏng giám sát; tạo dư địa để hỗ trợ phát triển nhưng vẫn đặt yêu cầu an toàn hệ thống ở vị trí trọng tâm.
Siết quản lý rủi ro, tăng hiệu quả phòng, chống rửa tiền
Quốc hội biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN
Một điểm nhấn khác trong Luật này là việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế phòng, chống rửa tiền theo phương pháp dựa trên rủi ro. Theo quy định được chỉnh lý, các bộ, ngành có trách nhiệm kiểm tra, giám sát hoạt động phòng, chống rửa tiền đối với các đối tượng báo cáo thuộc phạm vi quản lý nhà nước của mình. Việc kiểm tra, giám sát phải căn cứ vào kết quả đánh giá rủi ro quốc gia về rửa tiền và kết quả đánh giá rủi ro của từng đối tượng báo cáo.
Cách tiếp cận này giúp chuyển trọng tâm từ kiểm tra theo cách đồng đều sang tập trung nguồn lực vào những lĩnh vực, đối tượng và hoạt động có mức độ rủi ro cao hơn. Đồng thời, trách nhiệm của từng đối tượng báo cáo được thiết kế tương ứng với quy mô và mức độ rủi ro.
Cùng đó, Luật cũng tiếp tục hoàn thiện quy định về chủ sở hữu hưởng lợi. Các tiêu chí xác định sẽ được hướng dẫn cụ thể tại dự thảo Nghị định quy định chi tiết thi hành, trong đó lượng hóa tối đa tiêu chí về quyền kiểm soát thực tế. Chính phủ cũng sẽ chỉ đạo rà soát, chỉnh sửa khái niệm này tại Luật Doanh nghiệp nhằm bảo đảm thống nhất giữa các quy định pháp luật.
Việc làm rõ chủ sở hữu hưởng lợi có ý nghĩa quan trọng trong nhận diện người thực sự kiểm soát hoặc hưởng lợi từ pháp nhân, tài sản và giao dịch, qua đó nâng cao khả năng phát hiện, ngăn ngừa các hành vi che giấu nguồn gốc tài sản.
Bên cạnh đó, quy định về ngân hàng thương mại làm đại lý quản lý tài sản bảo đảm tiếp tục được hoàn thiện; trong đó làm rõ quyền, trách nhiệm của các bên, điều kiện, tiêu chí và nội dung hoạt động. Đây là vấn đề có liên quan đến pháp luật về chứng khoán và doanh nghiệp, đặc biệt trong hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp.
Đồng bộ pháp luật, bảo đảm an toàn hệ thống
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng cũng xử lý một số nội dung nhằm bảo đảm tính thống nhất giữa pháp luật ngân hàng với pháp luật về ngoại hối, ngân sách và các lĩnh vực liên quan.
Theo đó, bãi bỏ một số quy định tại Pháp lệnh Ngoại hối nhằm bảo đảm đồng bộ với Luật Ngân hàng Nhà nước. Đối với việc xử lý chênh lệch thu, chi của Ngân hàng Nhà nước, các cơ quan liên quan sẽ nghiên cứu, xử lý phù hợp, bảo đảm thống nhất với Luật Ngân sách nhà nước.
Đáng chú ý, Luật đã bãi bỏ quy định về chức năng kiểm tra của Bộ Tài chính đối với việc quản lý Dự trữ ngoại hối nhà nước do Ngân hàng Nhà nước thực hiện. Việc bãi bỏ này không ảnh hưởng đến chức năng kiểm tra chuyên ngành của Bộ Tài chính và không tạo khoảng trống trong quản lý, bởi vẫn có các cơ chế giám sát khác như Kiểm toán nhà nước, Thanh tra Chính phủ, kiểm toán nội bộ và kiểm soát nội bộ của Ngân hàng Nhà nước.
Nhìn tổng thể, sau khi tiếp thu, chỉnh lý, Luật vừa được thông qua đang hướng tới một khung pháp lý linh hoạt hơn trong điều hành, rõ hơn về trách nhiệm giám sát và chặt chẽ hơn trong quản trị rủi ro.
Sự linh hoạt được đặt trong khuôn khổ của các yêu cầu về lộ trình tuân thủ tỷ lệ an toàn và trách nhiệm thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước. Trong lĩnh vực phòng, chống rửa tiền, quản lý dựa trên rủi ro được nhấn mạnh cùng với việc hoàn thiện cơ chế xác định chủ sở hữu hưởng lợi.
Cùng với việc rà soát các quy định liên quan đến ngoại hối, ngân sách, doanh nghiệp và chứng khoán, những thay đổi này hướng tới mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ hơn, nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng, đồng thời tạo dư địa để chính sách ngân hàng đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn.