Sáng 11/8, dưới dự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội tiếp tục thảo luận tại Hội trường về Luật Phát triển đô thị. Đa số các ý kiến đại biểu Quốc hội đều đồng tình về mục đích, quan điểm xây dựng Luật, tạo hành lang pháp lý ổn định, đột phá, khả thi nhằm thúc đẩy phát triển các đô thị đặc biệt, khu kinh tế đặc biệt.
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định điều hành phiên thảo luận sáng 11/8/2026. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN
Gắn phát triển đô thị với quốc phòng, an ninh và kinh tế biển
Từ góc độ bảo vệ an ninh quốc gia, đại biểu Trần Quang Tâm (Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk) nhấn mạnh nguyên tắc phát triển kinh tế phải gắn chặt với củng cố quốc phòng, an ninh. Đại biểu đề xuất cần đặt các cơ chế đặc thù vượt trội trong khuôn khổ bảo vệ chủ quyền quốc gia; quy định bắt buộc phải có ý kiến đồng ý của Bộ Quốc phòng đối với các dự án tại vị trí chiến lược, biên giới, biển đảo, vùng trời, khu vực phòng thủ; kiểm soát chặt chẽ việc khai thác tài nguyên, không gian ngầm và không gian tầm thấp.
Đồng thời bổ sung cơ chế ứng phó tình trạng khẩn cấp, phòng thủ dân sự cho chính quyền đô thị đặc biệt; rà soát đối chiếu đồng bộ với Luật Quốc phòng, Luật Biên phòng Việt Nam, Luật Hàng không dân dụng...
Cùng góc nhìn phát triển không gian, đại biểu Tô Ái Vang (Đoàn ĐBQH thành phố Cần Thơ) kiến nghị bổ sung các quy định về "Chính sách phát triển kinh tế biển và quản lý không gian đô thị đặc thù", "Liên kết đô thị ven biển gắn với phát triển kinh tế biển lưỡng dụng và bảo đảm quốc phòng, an ninh". Việc kết nối dải đô thị ven biển từ TP.HCM đến các tỉnh thành sẽ tạo chuỗi giá trị liên hoàn, mở rộng trần tăng trưởng và thiết lập thế trận phòng thủ vững chắc trên biển.
Cần làm rõ cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển đô thị đặc biệt, khu kinh tế đặc biệt
Thảo luận về dự án Luật Phát triển đô thị, các đại biểu Quốc hội đều đồng tình về việc xây dựng một khuôn khổ pháp lý đủ mạnh, phân quyền thực chất để Thành phố Hồ Chí Minh và các đô thị lớn chuyển từ tư duy “xin cơ chế” sang chủ động kiến tạo cơ chế, tự quyết định và chịu trách nhiệm về kết quả; qua đó mở rộng không gian phát triển, khơi thông nguồn lực và thúc đẩy đổi mới, sáng tạo.
Thiếu tướng Lương Đình Hưng, Phó Tư lệnh Pháp luật Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển, đại biểu Quốc hội tỉnh Nghệ An bày tỏ sự nhất trí cao với sự cần thiết ban hành Luật Phát triển đô thị theo Tờ trình số 421/TTr-CP của Chính phủ. Dự án Luật, đã bám sát và thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng tại các văn kiện, Nghị quyết quan trọng như: Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 24/1/2022, Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và đặc biệt là Kết luận số 18-KL/TW ngày 2/4/2026 Hội nghị Trung ương 2, khóa XIV về định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026 - 2030, trong đó nhấn mạnh yêu cầu: "Hình thành các cực tăng trưởng mạnh, các vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị, các đặc khu kinh tế thế hệ mới ngang tầm khu vực và toàn cầu".
Dự án Luật bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, bảo đảm tính thống nhất với hệ thống pháp luật, tương thích với các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, cơ bản đủ điều kiện trình Quốc hội xem xét, thông qua tại kỳ họp này.
Tuy nhiên, để Dự án Luật được hoàn thiện và có tính khả thi cao hơn nữa khi triển khai thi hành trong thực tiễn, đại biểu Lương Đình Hưng đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo cân nhắc quy định rõ hơn một số vấn đề tại Chương II và Chương III về cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển đô thị đặc biệt, khu kinh tế đặc biệt.
“Tại Mục 3, Chương I và Mục 4, Chương III của dự thảo Luật, đề nghị nghiên cứu bổ sung quy định về cơ chế, nguyên tắc gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh (QP-AN) và bảo vệ chủ quyền quốc gia. Cụ thể theo hướng mọi cơ chế đặc thù, vượt trội (về đầu tư, tài chính, đất đai, quy hoạch hay tổ chức bộ máy) đều phải đáp ứng yêu cầu bảo đảm an toàn tuyệt đối về mặt QP-AN. Không vì mục tiêu tăng trưởng kinh tế trước mắt mà tạo ra các kẽ hở, bất cập làm ảnh hưởng đến lợi ích, chiến lược lâu dài của quốc gia”, đại biểu Lương Đình Hưng nêu ý kiến.
Tại Chương II và Chương III dự thảo Luật, đề nghị nghiên cứu bổ sung quy định về cơ chế phối hợp giữa chính quyền đô thị đặc biệt, khu kinh tế đặc biệt với Bộ Quốc phòng, nhất là khi triển khai các dự án đầu tư tại các vị trí có tính chất chiến lược về quân sự, quốc phòng, khu vực biên giới, biển đảo, vùng trời, khu vực phòng thủ, công trình quân sự, hành lang quân sự hoặc khu vực có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động quân sự, quốc phòng. Cần có quy định bắt buộc về xin ý kiến và được sự đồng ý của Bộ Quốc phòng trước khi ban hành quyết định chủ trương đầu tư hoặc phê duyệt quy hoạch, bảo đảm tuân thủ Luật Quốc phòng, Luật Đầu tư, Luật Quy hoạch và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Cần có quy định bảo đảm chặt chẽ về quản lý đất đai, tài nguyên và không gian phát triển mới theo hướng bổ sung, hoàn thiện quy định về quản lý không gian tầm thấp và không gian ngầm (Điều 11); xác định cơ chế kiểm soát chặt chẽ đối với các hoạt động đầu tư vào các địa bàn, lĩnh vực nhạy cảm; bắt buộc đánh giá tác động về QP-AN và làm rõ các trường hợp cụ thể phải xin ý kiến và được sự đồng ý của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an.
Tại Điều 6 và Điều 42 của dự thảo Luật, đề nghị nghiên cứu bổ sung, quy định rõ trách nhiệm của chính quyền các đô thị đặc biệt, khu kinh tế đặc biệt trong việc chủ động xây dựng phương án bảo đám QP-AN, phòng thủ dân sự, phòng chống thiên tai, ứng phó sự cố và bảo vệ an toàn tuyệt đối cho các công trình trọng yếu trên địa bàn.
Đại biểu Quốc hội TP Hải Phòng Nguyễn Ngọc Sơn phát biểu. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN
Tháo gỡ dự án chậm tiến độ và kiểm soát bảo vệ nguồn lực công
Thảo luận về cơ chế tháo gỡ cho các dự án chậm triển khai quy định tại dự thảo Luật, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn (Đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng) cho rằng, đây là hướng tiếp cận rất cần thiết nhằm giải phóng nguồn lực đất đai đang bị "đóng băng". Tuy nhiên, để cơ chế này vận hành hiệu quả và không bị "biến tướng", đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn đề xuất bổ sung cơ chế kiểm soát chặt chẽ.
Theo đó, cần xác định đầy đủ nghĩa vụ tài chính khi cho phép tiếp tục dự án phải rà soát, để Nhà nước không thất thu nhưng cũng không xác lập lại nghĩa vụ đã được thực hiện hợp pháp, tránh biến việc giải phóng nguồn lực thành cơ chế hợp thức hóa lợi ích phát sinh từ dự án kéo dài. Với dự án có giá trị đất đai, tài sản công hoặc nghĩa vụ tài chính lớn, phức tạp cần qua thẩm định liên ngành. Đồng thời, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn cũng đề nghị cân nhắc thời hạn áp dụng đến ngày 31/12/2036, bởi một cơ chế đặc biệt xử lý tồn đọng kéo dài tới 10 năm sẽ làm giảm tính cấp bách và tạo tâm lý chờ đợi.
Về quy hoạch tổng thể thành phố - quy hoạch thay thế quy hoạch tỉnh và quy hoạch chung đô thị đặc biệt, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn nhấn mạnh đây là bước phân quyền rất mạnh. Dù vậy, quy hoạch của "siêu đô thị" có tác động vượt địa giới hành chính, ảnh hưởng tới hạ tầng quốc gia. Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn đề xuất luật phải quy định rõ việc lấy ý kiến và xử lý ý kiến của Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ đối với nội dung liên quan đến quy hoạch ngành, hạ tầng quốc gia và liên vùng trước khi thành phố phê duyệt, thay vì chỉ quy định nghĩa vụ báo cáo sau khi Hội đồng nhân dân (HĐND) thông qua.
Đối với liên kết vùng, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn chỉ ra, các vấn đề khó nhất thường nằm ở chỗ lợi ích không đồng nhất (như khu xử lý chất thải, lưu vực sông, nguồn nước). Nếu chỉ quy định đồng thuận mà không có cơ chế xử lý bất đồng thì sẽ bế tắc. Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn kiến nghị, nếu các địa phương không thống nhất được sau một thời gian nhất định, cơ quan điều phối vùng phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ xử lý, quyết định theo thẩm quyền.
Liên quan đến việc lựa chọn nhà đầu tư chiến lược, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn phân tích các dự án quy mô từ 800 tỷ đến 75.000 tỷ đồng cần nhiều thời gian để nghiên cứu khả thi và thu xếp vốn. Việc quy định thời hạn nộp hồ sơ cho nhà đầu tư thứ hai chỉ có 7 ngày và ban hành tiêu chí chấm điểm sau khi tiếp nhận hồ sơ là chưa đảm bảo cạnh tranh thực chất. Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn đề nghị công khai danh mục dự án và tiêu chí chấm điểm trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia trước khi nhận hồ sơ, đồng thời kéo dài thời hạn tiếp nhận tối thiểu 45 ngày đối với dự án lớn.