08:08 13/08/2026

Lấy mã số vùng trồng làm nền tảng tăng giá trị trái cây xuất khẩu

Với gần 135.000 ha cây ăn trái, sản lượng trên 2,5 triệu tấn/năm cùng nhiều vùng chuyên canh quy mô lớn, Đồng Tháp có lợi thế để phát triển ngành hàng trái cây theo chuỗi giá trị. Tuy nhiên, để biến lợi thế về sản lượng thành giá trị gia tăng, tỉnh đang tập trung chuẩn hóa vùng nguyên liệu, nâng chất lượng mã số vùng trồng, tăng cường liên kết doanh nghiệp, hợp tác xã, nông dân và phát triển chế biến, xuất khẩu.

Chú thích ảnh
Vùng chuyên canh thanh long khoảng 9.000 ha của tỉnh Đồng Tháp. 

Chuẩn hóa vùng nguyên liệu

Những năm gần đây, cùng với quá trình tái cơ cấu nông nghiệp, Đồng Tháp đã hình thành nhiều vùng chuyên canh cây ăn trái quy mô lớn, gắn với lợi thế sinh thái và nhu cầu thị trường; trong đó, sầu riêng, mít, xoài, thanh long, dừa, dứa và nhóm cây có múi là những ngành hàng có nhiều tiềm năng.

Theo ngành nông nghiệp tỉnh, diện tích cây ăn trái hiện đạt trên 134.900 ha, sản lượng hơn 2,5 triệu tấn/năm. Riêng sầu riêng có khoảng 32.100 ha, sản lượng 556.916 tấn; mít khoảng 25.685 ha, sản lượng 437.433 tấn. Với quy mô vùng nguyên liệu lớn tạo điều kiện để Đồng Tháp tổ chức sản xuất hàng hóa tập trung, đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu. Tuy nhiên, sản lượng lớn cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, kiểm soát dư lượng, bảo quản sau thu hoạch và điều tiết thị trường.

Tại vùng Đồng Tháp Mười, cây dứa đang trở thành một trong những cây trồng chủ lực, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân với diện tích khoảng 15.000 ha dứa chuyên canh, sản lượng hàng năm gần 260.000 tấn. Cùng với quá trình tổ chức lại sản xuất, hợp tác xã và tổ hợp tác được hình thành tạo cầu nối giữa nông dân với doanh nghiệp.

Ông Bùi Kế Bính, Chủ tịch Hội Nông dân xã Tân Phước 1 cho biết: Dứa là cây trồng chủ lực của địa phương với diện tích khoảng 7.400 ha. Nhờ áp dụng kỹ thuật xử lý rải vụ, nông dân có thể thu hoạch, cung ứng sản phẩm cho thị trường quanh năm. Địa phương đang xây dựng mã số vùng trồng cho cây dứa, dự kiến đến cuối năm 2026 có hơn 1.700 ha được cấp mã số. Đây là điều kiện quan trọng để mở rộng thị trường và nâng giá trị sản phẩm.

Không chỉ cây dứa, các ngành hàng trái cây khác cũng đang từng bước chuyển sang sản xuất theo tiêu chuẩn và gắn với thị trường. Ông Trần Trung Quý, Giám đốc Hợp tác xã Hưng Thịnh Phát, xã Tân Thuận Bình chia sẻ: Hợp tác xã đang áp dụng quy trình sản xuất thanh long ruột đỏ đạt chuẩn VietGAP, với vùng nguyên liệu khoảng 115 ha. Sản phẩm thanh long của hợp tác xã đã được chứng nhận OCOP (Chương trình Mỗi xã một sản phẩm) 4 sao và xuất khẩu sang các thị trường như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc. Mỗi tháng, hợp tác xã xuất khẩu khoảng 300 tấn thanh long. Hiện 100% diện tích sản xuất của hợp tác xã đã được cấp mã số vùng trồng; sản phẩm được sơ chế, đóng gói tại cơ sở được cấp mã số, bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc.

Theo ông Lê Minh Khánh, Phó Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã tỉnh Đồng Tháp, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ theo chuỗi giá trị là hướng đi tất yếu và bền vững, giúp nâng cao giá trị nông sản, giảm rủi ro thị trường và tăng thu nhập cho nông dân. Trong đó, hợp tác xã đóng vai trò cầu nối, tập hợp các hộ sản xuất nhỏ lẻ, hình thành vùng nguyên liệu tập trung đủ quy mô để kết nối với doanh nghiệp và thị trường lớn.

Đến nay, toàn tỉnh có 273 hợp tác xã nông nghiệp liên kết với doanh nghiệp thông qua hợp đồng, gồm 168 hợp tác xã liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm, 101 hợp tác xã liên kết tiêu thụ đầu ra và 4 hợp tác xã liên kết cung ứng dịch vụ đầu vào.Tuy nhiên, đây mới là những mô hình tiêu biểu, trong khi phần lớn diện tích cây ăn trái của tỉnh vẫn cần tiếp tục được chuẩn hóa.

Theo số liệu mới nhất, toàn tỉnh có 3.553 mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu được cấp, thuộc 1.601 vùng trồng, với diện tích 148.996,63 ha; trong đó 3.486 mã số thuộc 1.537 vùng trồng đã được nước nhập khẩu phê duyệt. Ngoài ra, có 67 mã số thuộc 64 vùng trồng đang chờ nước nhập khẩu phê duyệt.

Chú thích ảnh
Nông dân xã Tân Phước 3, tỉnh Đồng Tháp thu hoạch dứa. 

Đối với thị trường nội địa, tỉnh đã cấp 1.868 mã số vùng trồng lĩnh vực trồng trọt, với diện tích 185.952,45 ha.Về cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu, có 504 mã số đã được nước nhập khẩu phê duyệt và 132 mã số đã kiểm tra, đang chờ phê duyệt.

Việc có số lượng lớn mã số vùng trồng là lợi thế, nhưng thách thức hiện nay là duy trì chất lượng và bảo đảm đầy đủ các điều kiện sau khi được cấp mã số. Mã số vùng trồng không chỉ là điều kiện để sản phẩm xuất khẩu mà còn thúc đẩy người sản xuất thay đổi phương thức canh tác, minh bạch hóa nguồn gốc và nâng cao trách nhiệm đối với chất lượng sản phẩm.

Chuỗi giá trị bền vững

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp Nguyễn Phước Thiện cho biết, tỉnh đang đẩy mạnh chuyển đổi số trong nông nghiệp, ứng dụng công nghệ số trong liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân; xây dựng kế hoạch mã số vùng trồng đối với các loại cây ăn trái và kế hoạch phát triển vùng nguyên liệu được chuẩn hóa.

Đồng Tháp cũng tăng cường ứng dụng công nghệ, minh bạch hóa quản lý mã số vùng trồng nhằm hạn chế vi phạm, đồng thời giải quyết các vấn đề đặt ra với một số ngành hàng xuất khẩu như sầu riêng nhiễm cadimi, qua đó hướng tới phát triển bền vững chuỗi ngành hàng trái cây chủ lực.

Theo Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Đồng Tháp Lê Hà Luân, thời gian tới, tỉnh tiếp tục phát huy lợi thế diện tích cây ăn trái hiện có, tập trung phát triển các loại cây chủ lực có thị trường tiêu thụ tốt, từng bước hình thành vùng nguyên liệu gắn với truy xuất nguồn gốc. Tỉnh khuyến khích rải vụ thu hoạch hợp lý theo nhu cầu thị trường; đồng thời đẩy mạnh cấp mới, duy trì mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu, tăng cường kiểm tra, giám sát đảm bảo tuân thủ quy định của thị trường nhập khẩu.

Cùng đó, cơ quan chuyên môn tăng cường kiểm tra, giám sát các vùng trồng, cơ sở đóng gói sau khi được cấp mã số; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những trường hợp không duy trì điều kiện theo quy định.

Để đưa việc cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đi vào thực chất, UBND tỉnh Đồng Tháp đã ban hành Kế hoạch thực hiện giai đoạn 2026-2030, hướng tới đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc, kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm và quy định của các thị trường nhập khẩu.

Theo kế hoạch, đến năm 2030, tỉnh phấn đấu 100% diện tích vùng trồng đủ điều kiện và 100% cơ sở đóng gói nông sản phục vụ xuất khẩu được cấp, quản lý và duy trì mã số theo quy định.

Giai đoạn 2026-2030, Đồng Tháp dự kiến cấp mới mã số cho 159.779 ha, gồm 52.214 ha lúa, nếp; 89.737 ha cây lâu năm, trong đó có cây ăn trái, dừa và 17.829 ha hoa màu.

Đến năm 2030, tổng diện tích được cấp và duy trì mã số vùng trồng dự kiến đạt 377.722 ha; trong đó lúa, nếp 203.082 ha, cây lâu năm 153.440 ha và hoa màu 21.200 ha. Đồng thời, 100% cơ sở sơ chế, gia công, đóng gói nông sản phục vụ xuất khẩu đủ điều kiện sẽ được cấp và quản lý mã số.

Điểm đáng chú ý trong kế hoạch là chuyển từ việc chú trọng cấp mã số sang quản lý, duy trì và khai thác hiệu quả mã số. UBND cấp xã sẽ hướng dẫn, xác nhận hồ sơ và kiểm tra hiện trạng vùng trồng; cơ quan chuyên môn tổ chức thẩm định thực tế trước khi cấp mã số. Sau khi được cấp, vùng trồng và cơ sở đóng gói tiếp tục được kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất.

Song song đó, Đồng Tháp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói, xây dựng cơ sở dữ liệu về vị trí địa lý, diện tích, sản lượng, chủ thể sản xuất, nhật ký canh tác, sinh vật gây hại và quy trình sản xuất. Qua đó, từng bước chuyển từ quản lý thủ công sang quản lý dựa trên dữ liệu, phục vụ truy xuất nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.

Tuy nhiên, chuẩn hóa vùng nguyên liệu chỉ là một khâu trong chuỗi giá trị. Để nâng giá trị trái cây, Đồng Tháp còn phải giải quyết bài toán liên kết sản xuất, chế biến, bảo quản và logistics.

Thực tế cho thấy, nhiều vùng sản xuất đã có quy mô lớn nhưng liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp chưa thật sự bền vững. Hợp đồng tiêu thụ dài hạn còn ít, một số hợp tác xã chưa đủ năng lực điều phối vùng nguyên liệu, trong khi doanh nghiệp còn hạn chế trong đầu tư trực tiếp vào vùng sản xuất.

Chú thích ảnh
Ông Dương Văn Đây, xã Ngũ Hiệp, tỉnh Đồng Tháp, xây dựng vùng trồng sầu riêng đạt chuẩn xuất khẩu với diện tích 2,7 ha. 

Ông Dương Văn Đây, nông dân canh tác 2,7 ha sầu riêng tại xã Ngũ Hiệp cho rằng liên kết sản xuất là yếu tố quan trọng để nâng chất lượng và giá trị sầu riêng. Do đó, nông dân cần phối hợp chặt chẽ với nhà khoa học và cơ quan chuyên môn, nhất là trong việc tìm giải pháp khắc phục tình trạng nhiễm cadimi, đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu. Bên cạnh đó, tham gia chuỗi liên kết đòi hỏi nông dân thay đổi phương thức canh tác, tuân thủ nghiêm quy trình sản xuất, ghi chép nhật ký và kiểm soát chặt vật tư đầu vào. Đây là những điều kiện quan trọng để duy trì mã số vùng trồng, đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp và tạo niềm tin với thị trường.

Bà Trần Thanh Phong, Giám đốc Hợp tác xã Mỹ Phong cho biết: Hợp tác xã chuyên sản xuất, kinh doanh bưởi da xanh và có khả năng bảo đảm chất lượng sản phẩm, an toàn thực phẩm, xây dựng mã số vùng trồng. Tuy nhiên, tổ chức sản xuất và liên kết giữa sản xuất với tiêu thụ vẫn còn những bất cập, chưa xây dựng được vùng nguyên liệu bền vững. Vì vậy, doanh nghiệp và nông dân cần chia sẻ lợi ích, rủi ro trong quá trình liên kết; từ đó xây dựng chuỗi sản xuất ổn định, bảo đảm sản lượng và chất lượng nông sản để cung ứng lâu dài cho đối tác.

Theo các chuyên gia, việc triển khai kế hoạch cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói giai đoạn 2026-2030 không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu mà còn để Đồng Tháp tổ chức lại vùng nguyên liệu, nâng chất lượng nông sản, thúc đẩy liên kết và chuyển từ tư duy sản xuất sang tư duy kinh tế ngành hàng. Qua đó, từng bước nâng giá trị gia tăng, sức cạnh tranh và xây dựng thương hiệu nông sản Đồng Tháp phát triển bền vững trên thị trường trong nước và quốc tế.

Bài và ảnh: Công Trí (TTXVN)