08:13 21/08/2026

Làm chủ dữ liệu công nghệ để phát triển kinh tế biển

Việt Nam cần chuyển từ nghiên cứu, khai thác biển sang từng bước làm chủ tri thức, dữ liệu, công nghệ và không gian phát triển biển; trong đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải trở thành nền tảng của quản trị biển, phát triển kinh tế biển xanh.

Ngày 21/8, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức Hội thảo “Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong triển khai Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh”.

Coi dữ liệu biển là hạ tầng chiến lược

Phát biểu tại hội thảo, Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân nhấn mạnh, Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV đặt ra yêu cầu mới, có ý nghĩa chiến lược đối với ngành khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Chú thích ảnh
Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ phát biểu tại hội thảo.

Nếu trước đây, khoa học và công nghệ chủ yếu được nhìn nhận là công cụ hỗ trợ cho từng ngành, lĩnh vực kinh tế biển, trong giai đoạn mới, khoa học và công nghệ phải trở thành nền tảng của quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia; phát triển kinh tế biển xanh, hiện đại, số và bền vững; đồng thời góp phần bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế của Việt Nam trong quản trị biển, đại dương khu vực và quốc tế.

Giai đoạn 2026-2030, ngành Khoa học và Công nghệ cần tập trung vào một số định hướng lớn, trước hết là hình thành năng lực nghiên cứu biển mạnh, có trọng tâm và khả năng dẫn dắt. Mục tiêu hình thành 2-3 tổ chức nghiên cứu về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo biển đạt trình độ các nước dẫn đầu ASEAN cần được nhìn nhận không đơn thuần là chỉ tiêu về số lượng tổ chức, mà phải là chỉ tiêu về năng lực quốc gia.

Các tổ chức này cần có khả năng tập hợp đội ngũ chuyên gia mạnh, sở hữu hạ tầng nghiên cứu hiện đại, làm chủ dữ liệu và công nghệ, giải quyết các bài toán lớn của quốc gia và tham gia mạng lưới nghiên cứu quốc tế. Đây phải là những hạt nhân của hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo biển.

Một nhiệm vụ quan trọng khác là coi dữ liệu biển như một loại hạ tầng chiến lược của quốc gia. Quản trị biển hiện đại phải dựa trên dữ liệu và bằng chứng khoa học. Theo đó, cần xây dựng hệ thống dữ liệu biển thống nhất, liên thông, cập nhật và an toàn; kết nối dữ liệu điều tra cơ bản, quan trắc, môi trường, tài nguyên, hạ tầng và các hoạt động kinh tế xã hội trên biển. Cùng với đó là phát triển bản đồ số biển và đại dương, các công cụ mô hình hóa, dự báo và trí tuệ nhân tạo phục vụ quản lý, quy hoạch, cảnh báo và ra quyết định.

Một thay đổi quan trọng được Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ nhấn mạnh là chuyển mạnh từ “ứng dụng công nghệ” sang “làm chủ công nghệ”. Việt Nam cần xác định những công nghệ biển, đại dương và công nghệ lưỡng dụng có ý nghĩa chiến lược để tập trung nguồn lực nghiên cứu, tiếp nhận, hấp thụ, làm chủ, chuyển giao và từng bước phát triển.

Các lĩnh vực được lưu ý gồm: Công nghệ quan trắc, giám sát và dự báo biển; khảo sát đáy biển và biển sâu; thiết bị ngầm, robot biển và phương tiện không người lái; công nghệ công trình biển và năng lượng ngoài khơi; công nghệ môi trường biển; nuôi biển công nghiệp; công nghệ sinh học biển và các công nghệ lưỡng dụng phục vụ phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, cứu hộ, cứu nạn và bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Cùng với đó, doanh nghiệp và địa phương cần trở thành những chủ thể quan trọng của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo biển. Doanh nghiệp cần tham gia từ khâu xác định bài toán, đặt hàng, đồng tài trợ, thử nghiệm, kiểm chứng đến thương mại hóa; trong khi các địa phương ven biển cần chủ động hơn trong xác định bài toán, tổ chức thử nghiệm và hình thành thị trường cho các sản phẩm, công nghệ biển.

Tập trung vào những bài toán lớn

Theo Bộ trưởng Vũ Hải Quân, nghiên cứu biển cũng cần đổi mới cách tổ chức và triển khai. Do biển là một không gian liên thông, nghiên cứu biển không thể tiếp tục bị chia cắt quá nhiều theo ngành, lĩnh vực hay địa giới hành chính.

Do đó, cần chuyển mạnh sang các bài toán lớn, liên ngành, liên vùng, có sản phẩm đầu ra rõ ràng; gắn nghiên cứu cơ bản với điều tra cơ bản, dữ liệu, công nghệ, đào tạo nhân lực, nhu cầu doanh nghiệp và yêu cầu quản trị quốc gia.

Tại hội thảo, Bộ trưởng đề nghị tập trung lựa chọn một số nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số biển trọng điểm giai đoạn 2026-2030, có tính liên ngành, liên vùng và đủ khả năng tạo đột phá; xác định mô hình, tiêu chí hình thành 2-3 tổ chức nghiên cứu biển mạnh; đề xuất mô hình quản trị dữ liệu biển quốc gia và danh mục các công nghệ biển, đại dương, công nghệ lưỡng dụng ưu tiên làm chủ đến năm 2030.

Chú thích ảnh
Phần trao đổi tọa đàm.

Đồng thời, cần đề xuất cơ chế huy động và phối hợp nguồn lực giữa Nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, địa phương và các đối tác quốc tế, nhất là cơ chế đặt hàng nhiệm vụ lớn, đồng tài trợ, thử nghiệm, chia sẻ rủi ro và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

“Đã đến lúc chuyển từ nghiên cứu về biển sang làm chủ tri thức về biển; từ khai thác dữ liệu biển sang làm chủ dữ liệu biển; từ tiếp nhận và ứng dụng công nghệ sang từng bước làm chủ và phát triển công nghệ biển”, Bộ trưởng nhấn mạnh.

Tại hội thảo, GS.TS Trần Tuấn Anh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, cũng đề xuất thay đổi cách tiếp cận trong tổ chức nghiên cứu biển, chuyển từ các nhiệm vụ đơn ngành, phân tán sang nghiên cứu liên ngành, đa ngành; chuyển từ “đề tài nghiên cứu” sang “bài toán lớn của quốc gia”; coi dữ liệu biển là hạ tầng chiến lược và xây dựng hệ sinh thái nghiên cứu biển quốc gia.

Theo GS.TS Trần Tuấn Anh, ngành khoa học biển cần đồng thời thực hiện 4 chuyển đổi lớn: Từ nghiên cứu đơn ngành sang liên ngành, đa ngành; từ các đề tài riêng lẻ sang chương trình giải quyết bài toán lớn của quốc gia; từ dữ liệu phân tán sang hạ tầng dữ liệu biển dùng chung; và từ ứng dụng công nghệ sang từng bước làm chủ những công nghệ biển chiến lược.

XM/Báo Tin tức và Dân tộc