09:08 03/09/2026

Kinh tế Việt Nam qua góc nhìn quốc tế: Mô hình phát triển cho kỷ nguyên mới

Việc Nhóm Ngân hàng Thế giới (WB) nâng hạng Việt Nam lên nhóm nền kinh tế có thu nhập trung bình cao là cột mốc lịch sử sau 17 năm nỗ lực bền bỉ. Song, để vượt qua "bẫy thu nhập trung bình" và cán đích quốc gia thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam phải đối mặt với những thách thức phát triển hoàn toàn mới khi các động lực tăng trưởng cũ đã chạm trần.

Trong bối cảnh đó, các tổ chức quốc tế đều đồng thuận rằng, với Việt Nam, chuyển dịch mô hình tăng trưởng từ thâm dụng các yếu tố truyền thống sang công nghệ và đổi mới sáng tạo không còn là một lựa chọn, mà đã trở thành mệnh lệnh của thời đại.

Chú thích ảnh
Việt Nam tiếp tục là điểm sáng thu hút FDI. Ảnh minh họa: TTXVN

Yêu cầu cấp bách

Theo phân loại quốc gia mới nhất của Nhóm Ngân hàng Thế giới, tổng thu nhập quốc dân (GNI) bình quân đầu người của Việt Nam đã đạt mức 4.970 USD, vượt qua ngưỡng quy định để chính thức gia nhập nhóm thu nhập trung bình cao. Thành quả này khép lại hành trình 17 năm liên tục nằm ở nhóm thu nhập trung bình thấp kể từ năm 2009. Thế nhưng, đằng sau cột mốc lịch sử này, chương mới của sự phát triển lại mở ra những thử thách lớn.

Để tiến lên vị thế quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, GNI bình quân đầu người của Việt Nam phải tăng gần gấp ba lần nữa. Đây là một bài toán hóc búa, bởi lịch sử kinh tế thế giới từ năm 1990 đến nay chỉ ra rằng, chỉ có 27 nền kinh tế vượt thành công bẫy thu nhập trung bình. Trong số đó, có tới hơn 1/3 ba quốc gia thăng hạng thành công là nhờ có các điều kiện đặc thù khó sao chép như việc gia nhập Liên minh châu Âu (EU) hoặc giàu tài nguyên. Do đó, Giám đốc quốc gia ADB tại Việt Nam, ông Shantanu Chakraborty, nhận định thách thức thực sự của Việt Nam không nằm ở việc tạo ra các cột mốc tăng trưởng ngắn hạn, mà là khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng cao, bền bỉ và chất lượng liên tục trong nhiều năm liên tiếp.

Trong khi đó, các chuyên gia quốc tế cùng chung nhận định rằng mô hình tăng trưởng theo chiều rộng trước đây của Việt Nam đã tiệm cận giới hạn. Ông Shantanu Chakraborty đánh giá Việt Nam không thể tiếp tục phụ thuộc vào mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, lao động giá rẻ, và khu vực FDI. Đồng tình với quan điểm này, trong bài viết trên trang web của Hội đồng Nga về các vấn đề quốc tế, Tiến sĩ kinh tế Irina Dezhina từ Viện Xã hội học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga chỉ rõ, dù chính sách mở cửa giúp Việt Nam đạt bước nhảy vọt công nghệ, nhưng năng lực tự chủ công nghệ trong nước vẫn còn là khoảng trống lớn.

Chuyên gia này đánh giá rằng, dù FDI đóng góp lớn cho tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) nhưng mức độ chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lý cho doanh nghiệp trong nước còn hạn chế, khiến Việt Nam vẫn chủ yếu đảm nhiệm các công đoạn có giá trị gia tăng thấp và lắp ráp sản phẩm cuối cùng. Theo bà Irina Dezhina, hạn chế này cho thấy Việt Nam đã thành công trong việc thu hút và tiếp nhận công nghệ nhưng chưa hình thành đầy đủ hệ sinh thái để tạo ra công nghệ trong nước. Do đó, để tránh bị bỏ lại phía sau trong kỷ nguyên của công nghệ và tự động hóa, Việt Nam bắt buộc phải thay đổi mô hình phát triển.

Tính cấp bách của cuộc chuyển đổi mô hình tăng trưởng còn được đẩy lên cao trước những rủi ro xuất phát từ độ mở kinh tế lớn của Việt Nam. Cả Giám đốc WB tại Việt Nam, bà Mariam J. Sherman và Chuyên gia kinh tế trưởng của ADB, ông Bùi Minh Giáp, đều đặc biệt nhấn mạnh khía cạnh này. Với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tương đương khoảng 170% GDP, Việt Nam hiện là một trong những nền kinh tế có độ mở lớn nhất thế giới.

Ông Bùi Minh Giáp phân tích rằng, đặc tính này khiến nền kinh tế cực kỳ nhạy cảm và dễ bị tổn thương trước bất kỳ "cơn gió ngược" nào từ quốc tế, từ biến động thương mại toàn cầu, các rào cản thuế quan mới, cho đến sự suy giảm nhu cầu tiêu dùng tại các thị trường xuất khẩu lớn. Do đó, bà Mariam J. Sherman khuyến nghị Việt Nam cần đa dạng hóa các động lực tăng trưởng và dịch chuyển sang mô hình mới để nâng cao năng lực chống chịu tự thân thay vì phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài.

Hai đòn bẩy chiến lược

Trong công cuộc chuyển đổi mô hình tăng trưởng này, Tiến sĩ Irina Dezhina nhận định Việt Nam có 4 lợi thế trong phát triển công nghệ: gần các trung tâm sản xuất công nghệ lớn ở Đông Nam Á; vị trí thuận lợi để tiếp cận các thị trường Trung Quốc và Ấn Độ; sở hữu nguồn tài nguyên đất hiếm quan trọng đối với sản xuất chất bán dẫn; đồng thời nhanh chóng khôi phục các yếu tố của kinh tế thị trường, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghệ.

Đứng trước yêu cầu chuyển đổi và những lợi thế như vậy, trên thực tế, Việt Nam đã chủ động triển khai nhiều quyết sách mạnh mẽ nhằm thúc đẩy công nghệ, đổi mới sáng tạo và bước đầu đem lại kết quả thực chất. Đánh giá những bước tiến của Việt Nam về công nghệ, Tiến sĩ Irina Dezhina dẫn chứng rằng theo Chỉ số Đổi mới Toàn cầu 2025, Việt Nam xếp thứ 44 trên tổng số 139 quốc gia về phát triển công nghệ. Đặc biệt, hiệu quả đổi mới tổng thể của Việt Nam đứng thứ 37, vượt trội đáng kể so với thứ hạng nguồn lực đầu vào là 50. Chuyên gia Nga cũng chỉ rõ Việt Nam đang nằm trong nhóm có hạ tầng viễn thông phát triển mạnh với vùng phủ sóng 5G toàn quốc, đồng thời xếp thứ 10 trong số 21 nền kinh tế khu vực châu Á - Thái Bình Dương về Chỉ số Quốc gia Số hóa 2025.

Chú thích ảnh
Dây chuyền sản xuất ứng dụng robot tự động của Công ty TNHH CAYI Technology Việt Nam, Khu công nghiệp Yên Phong II-C, tỉnh Bắc Ninh. Ảnh: Đồng Thúy/TTXVN

Bước chuyển mình của Việt Nam còn được minh chứng bằng số liệu thực tế trong dòng chảy thương mại công nghệ toàn cầu. Trong “Báo cáo Phát triển Thế giới 2026: Hứa hẹn của Trí tuệ Nhân tạo”, Nhóm Ngân hàng Thế giới ghi nhận Việt Nam đã vươn lên nằm trong nhóm 5 quốc gia đang phát triển xuất khẩu hàng đầu thế giới các sản phẩm phục vụ cho hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI), bao gồm chất bán dẫn, linh kiện điện tử và thiết bị trung tâm dữ liệu. Sự bứt phá này cũng nhận được đánh giá cao từ trang phân tích kinh tế economicsperspective.com của Ấn Độ.

Các chuyên gia của trang tin này nhận định rằng sự bùng nổ xuất khẩu các sản phẩm tích hợp AI đang tạo động lực cốt lõi giúp Việt Nam dẫn đầu xu hướng chuyển dịch từ xuất khẩu các mặt hàng truyền thống sang các sản phẩm công nghệ tiên tiến, nâng cao năng lực cạnh tranh và củng cố vị thế vững chắc của mình trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Để thực sự làm chủ mô hình tăng trưởng mới, Việt Nam đang dồn lực tập trung vào hai ngành công nghệ cốt lõi mang tính thời đại là bán dẫn và trí tuệ nhân tạo (AI). Tờ Nikkei Asia của Nhật Bản nhận định sự phát triển nhanh của ngành bán dẫn đang mở ra cơ hội để Việt Nam chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào lao động và sản xuất sang các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao hơn, từ đó tiến gần hơn tới mục tiêu gia nhập nhóm quốc gia có thu nhập cao.

Nikkei Asia đánh giá cao việc Việt Nam không chỉ dừng lại ở các công đoạn gia công giá trị thấp ở cuối chuỗi giá trị như lắp ráp, đóng gói, kiểm thử, mà đang chủ động hướng tới mở rộng sự tham gia vào thiết kế và chế tạo mạch tích hợp trên tấm bán dẫn. Quyết tâm của Việt Nam còn được thể hiện qua mục tiêu đến năm 2030 đào tạo hơn 50.000 kỹ sư, cử nhân phục vụ ngành bán dẫn.

Song hành cùng bán dẫn, AI đang được xem là một đòn bẩy để Việt Nam tạo bước đi đột phá cho nền kinh tế. Ông Indermit Gill, Phó Chủ tịch Cấp cao kiêm Chuyên gia Kinh tế trưởng của Nhóm Ngân hàng Thế giới, nhận định AI mang lại cơ hội lịch sử để các nước đang phát triển rút ngắn tiến trình phát triển từ cả trăm năm xuống chỉ còn một thập kỷ. Ông nhấn mạnh các quốc gia không nhất thiết phải sở hữu các mô hình AI quy mô lớn hay các trung tâm dữ liệu khổng lồ mới có thể thu được lợi ích từ AI. Thay vào đó, bằng cách điều chỉnh các công cụ AI nhỏ, chi phí thấp cho phù hợp với điều kiện địa phương, các nước có thể đưa dịch vụ y tế, giáo dục, tư pháp và khuyến nông chất lượng tốt hơn đến với hàng triệu người dân.

Bằng việc nhận diện rõ giới hạn của mô hình cũ, chủ động nắm bắt cơ hội từ hai trụ cột bán dẫn và AI, cùng với quyết tâm chính trị mạnh mẽ, Việt Nam đang từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đây sẽ là chìa khóa giúp nền kinh tế hóa giải các "cơn gió ngược" để hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.

Khánh Ly (Tổng hợp)