01:14 25/01/2026

Kiều bào tại Nhật Bản tin tưởng tinh thần hành động của Đại hội XIV

Chủ tịch Liên hiệp hội người Việt tại Nhật Bản, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn đánh giá cao các văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Đại hội XIV) của Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ dừng ở tầm nhìn, mà còn bao hàm tính “hành động” mạnh mẽ.

Chú thích ảnh
Ông Nguyễn Hồng Sơn, Chủ tịch Liên hiệp hội người Việt Nam tại Nhật Bản, trả lời phỏng vấn TTXVN. Ảnh: Phạm Tuân/TTXVN

Đó là nhận định mà Tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn đưa ra trong cuộc trả lời phỏng vấn của phóng viên TTXVN tại Tokyo. Ông nhấn mạnh chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV được xác định là mang tính “đột phá”. Từng mục tiêu, từng giải pháp được thiết kế gắn với thực tiễn, có lộ trình, có trọng tâm, trọng điểm. Điều này đáp ứng kỳ vọng của nhân dân, của kiều bào Việt Nam tại nước ngoài: văn kiện không chỉ là “kim chỉ nam” về tư tưởng, mà còn là bản thiết kế cho các hành động.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn, Đại hội XIV được xác định là “Đại hội của niềm tin và khát vọng, của đột phá và hành động, của kỷ luật và sáng tạo, của đoàn kết và phát triển”. Phương châm này không chỉ mang tính khẩu hiệu mà thể hiện rõ tinh thần: kiên định mục tiêu, nhưng đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển, đề cao kỷ luật đi đôi với sáng tạo, đặt đoàn kết dân tộc làm nền cho phát triển. Với cộng đồng người Việt ở nước ngoài, trong đó có Nhật Bản, đây là một thông điệp rất quan trọng: đất nước đang bước vào một “kỷ nguyên vươn mình”, và mỗi người Việt, dù ở đâu, đều được mời gọi tham gia vào khát vọng đó.

Ngoài ra, các văn kiện đánh giá nhiệm kỳ XIII với những từ khóa rất rõ: năng lực, bản lĩnh, kiên định, vững vàng. Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, phức tạp, khó lường, việc Việt Nam vẫn giữ được ổn định vĩ mô, duy trì tăng trưởng, mở rộng đối ngoại, nâng cao vị thế quốc tế… cho thấy năng lực lãnh đạo, bản lĩnh xử lý khủng hoảng và sự kiên định con đường đã lựa chọn. Điều này tạo nền tảng tâm lý rất quan trọng: chúng ta bước vào nhiệm kỳ mới không phải từ “vạch xuất phát”, mà từ một nền tảng đã được thử thách qua nhiều biến động.

Bên cạnh đó, các mục tiêu phát triển giai đoạn 2026-2030 và tầm nhìn đến 2045 thể hiện rất rõ “khát vọng lớn, bước đi chắc”: phấn đấu đến 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Điều quan trọng là tầm nhìn này được gắn với các đột phá chiến lược, với mô hình tăng trưởng mới, với yêu cầu nâng cao chất lượng thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực. Như vậy, kỳ vọng về một tầm nhìn dài hạn, có cơ sở và có lộ trình đã được thể hiện khá rõ.

Tóm lại, nếu trước Đại hội là “kỳ vọng”, thì sau Đại hội, qua các văn kiện và kết quả nhân sự, có thể nói phần lớn những kỳ vọng đó đã được “định hình hóa” thành định hướng, mục tiêu, giải pháp cụ thể. Vấn đề còn lại - và cũng là thách thức lớn nhấtlà tổ chức thực hiện: “nói ít, làm nhiều, làm đến cùng” như tinh thần mà Đại hội đã nhấn mạnh.

Nhìn ở tầm chiến lược, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn nhận định có một số điểm mới và trọng tâm lớn của Đại hội XIV sẽ có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển của đất nước trong giai đoạn tới. Trong đó, các văn kiện không chỉ “nói cái gì”, mà “làm như thế nào” với các chương trình hành động, các chỉ tiêu định lượng, các mốc thời gian rõ ràng có ý nghĩa quan trọng nhất đối với quá trình phát triển của đất nước ta trong giai đoạn mới. Tính hành động này là điểm mới rất quan trọng, vì đã biến tầm nhìn thành cam kết cụ thể.

Quá trình chuẩn bị văn kiện được tiến hành rất công phu, khoa học, hiện đại, kế thừa nhưng đồng thời đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển, bám sát thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan. Đặc biệt, văn kiện Đại hội xác định rõ “con người là trung tâm, là chủ thể” của mọi quyết sách; “dân là gốc”, qua đó khẳng định mục tiêu phát triển không chỉ là tăng trưởng, mà là nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân.

Bên cạnh đó, văn kiện đã khái quát những bài học cốt lõi. Những bài học này không chỉ là tổng kết quá khứ, mà là “bộ lọc” để lựa chọn chính sách trong tương lai. Theo ông, điều này làm cho văn kiện vừa mang tính lý luận, vừa gắn với đời sống.

Chú thích ảnh
Phiên bế mạc Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ảnh: TTXVN

Nhận định về vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng được thể hiện qua Đại hội XIV, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn cho biết từ góc nhìn của một người đang sống và làm việc trong cộng đồng người Việt tại Nhật Bản, ông cảm nhận rất rõ vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng được thể hiện qua Đại hội XIV ở 3 khía cạnh. Thứ nhất, bản lĩnh và năng lực lãnh đạo trong bối cảnh mới. Thế giới đang ở giai đoạn chuyển động rất nhanh: cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chuyển đổi số, chuyển dịch chuỗi cung ứng, biến đổi khí hậu, xung đột khu vực… Trong bối cảnh đó, việc Đảng xác định rõ mô hình tăng trưởng mới, nhấn mạnh đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, đồng thời giữ vững độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, cho thấy tầm nhìn chiến lược của Đảng và năng lực “định hướng” rất rõ rệt.

Thứ hai là sự hòa quyện giữa “ý Đảng, lòng dân”. Quá trình xây dựng văn kiện được mô tả là công phu, khoa học, nhưng đồng thời rất mở, rất dân chủ, lắng nghe ý kiến từ nhiều tầng lớp, trong đó có kiều bào. Điều này tạo cảm giác kiều bào không đứng ngoài, mà là một phần của quá trình hoạch định đường lối. Khi “ý Đảng” được xây dựng trên nền tảng “lòng dân”, thì niềm tin được củng cố không phải bằng tuyên truyền, mà bằng sự đồng thuận thực chất.

Ngoài ra, tính kỷ luật trong tổ chức thực hiện thể hiện qua việc “nói ít, làm nhiều, làm đến cùng”. Đại hội XIV nhấn mạnh rất mạnh mẽ yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, chống tham nhũng, tiêu cực, đồng thời đề cao trách nhiệm nêu gương, trách nhiệm giải trình. Tinh thần “nói ít, làm nhiều, làm đến cùng” là một cam kết chính trị rất cụ thể. Khi kiều bào nhìn thấy những chuyển biến thực chất trong quản trị quốc gia, trong phòng chống tham nhũng, trong cải cách thủ tục hành chính, trong môi trường đầu tư - kinh doanh, thì niềm tin không chỉ là cảm xúc, mà trở thành một “tài sản” để họ yên tâm gắn bó, đầu tư, hợp tác lâu dài với quê hương.

Đối với cộng đồng người Việt tại Nhật Bản, việc Đảng và Nhà nước Việt Nam thể hiện quyết tâm xây dựng một Nhà nước pháp quyền, một nền quản trị hiện đại, liêm chính, hành động, càng có ý nghĩa đặc biệt, giúp kiều bào có cơ sở vững chắc để giải thích với bạn bè quốc tế, với đối tác Nhật Bản về con đường phát triển của Việt Nam, và củng cố niềm tin rằng đất nước đang đi đúng hướng.

Từ góc độ một tổ chức đại diện toàn cộng đồng, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn cho rằng Đại hội XIV đã mở ra một không gian mới để kiều bào nói chung, cộng đồng người Việt tại Nhật Bản nói riêng, phát huy vai trò của mình sâu sắc và thực chất hơn. Đại hội XIV đã đặt ra một tầm nhìn rất rõ: đến 2045, Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Đó không chỉ là “mục tiêu của Đảng”, mà là trăn trở chung của cả dân tộc. Điều đó đòi hỏi cộng đồng người Việt tại Nhật Bản phải chuyển từ tâm thế “hướng về quê hương” sang tâm thế “đồng hành cùng quê hương”: chủ động hơn, chuyên nghiệp hơn, gắn kết hơn, và cũng kỷ luật, minh bạch hơn trong mọi hoạt động.

Cụ thể hơn, các chuyên gia, trí thức người Việt Nam tại Nhật Bản sẵn sàng đóng góp trí tuệ, kinh nghiệm quốc tế để phản biện chính sách, đề xuất mô hình mới tới lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Trong phát triển hạ tầng và chuyển đổi số, cộng đồng chuyên gia, doanh nhân Việt Nam tại Nhật Bản sẽ là cầu nối công nghệ, vốn, quản trị, tiêu chuẩn quốc tế. Trong phát triển nguồn nhân lực, kiều bào tại Nhật Bản có thể góp phần đào tạo, kết nối, đưa sinh viên, nghiên cứu sinh, kỹ sư trẻ sang Nhật Bản học tập, thực tập, rồi quay về đóng góp cho đất nước.

Tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn tin tưởng rằng nếu biết tận dụng tốt những cơ hội mà Đại hội XIV mở ra - với tầm nhìn chiến lược rõ ràng, với các đột phá cụ thể, với tinh thần hành động quyết liệt, thì cộng đồng người Việt tại Nhật Bản sẽ không chỉ là “cầu nối” đơn thuần, mà thực sự trở thành một “trụ cột mềm” trong sức mạnh tổng hợp của quốc gia trên con đường phát triển mới.

 Nguyễn Tuyến (TTXVN)