03:12 02/03/2026

Khuyến cáo với các doanh nghiệp hợp tác kinh doanh tại Trung Đông

Căng thẳng tại Trung Đông đang có nguy cơ đẩy chi phí vận tải, năng lượng tăng, đòi hỏi các doanh nghiệp xuất khẩu có biện pháp ứng phó sớm, linh hoạt để hạn chế rủi ro. TS Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP Hà Nội (Hanoisme) đã trao đổi với phóng viên Báo Tin tức và Dân tộc xung quanh vấn đề này. 

Chú thích ảnh
Ông Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP Hà Nội (Hanoisme). 

Thưa ông, tình hình căng thẳng quân sự giữa United States, Israel và Iran không chỉ là vấn đề an ninh khu vực mà đang là “cú sốc” địa chính trị có tính lan tỏa toàn cầu, đặc biệt qua 3 kênh: Năng lượng, logistics và tài chính. Ông nhận định như thế nào về vấn đề này?

Căng thẳng tại Trung Đông có thể tác động lan tỏa đến tài chính, thương mại toàn cầu, trong đó có hoạt động sản xuất - kinh doanh và xuất khẩu của Việt Nam. Với Việt Nam, các tuyến hàng hải qua eo biển Hormuz hay Biển Đỏ có thể bị ảnh hưởng gián tiếp bởi căng thẳng quân sự. Khi rủi ro an ninh tăng, phí bảo hiểm tàu biển, thời gian vận chuyển và chi phí container sẽ đều tăng, tác động trực tiếp đến những ngành phụ thuộc lớn vào chi phí logistics như dệt may, da giày, nông sản... 

Thứ nhất, về giá năng lượng: Trung Đông đang chiếm tỷ trọng lớn trong cung ứng dầu mỏ và khí đốt toàn cầu. Khi xung đột leo thang, rủi ro gián đoạn nguồn cung và tâm lý đầu cơ khiến giá dầu biến động mạnh. Với Việt Nam, nền kinh tế có độ mở lớn và phụ thuộc đáng kể vào nhập khẩu xăng dầu đầu vào chi phí sản xuất, vận tải, bảo hiểm hàng hóa đều tăng. Doanh nghiệp xuất nhập khẩu chịu tác động kép, đó là giá thành tăng nhưng khả năng điều chỉnh giá bán hạn chế do hợp đồng đã ký cố định.

Thứ hai, về chuỗi cung ứng và logistics: Các tuyến hàng hải qua eo biển Hormuz hay Biển Đỏ có thể bị ảnh hưởng gián tiếp bởi căng thẳng quân sự. Khi rủi ro an ninh tăng, phí bảo hiểm tàu biển, thời gian vận chuyển và chi phí container đều tăng. Điều này tác động trực tiếp đến doanh nghiệp xuất khẩu dệt may, da giày, nông sản, những ngành phụ thuộc lớn vào chi phí logistics.

Thứ ba về tài chính, tỷ giá và thanh toán quốc tế: Xung đột làm gia tăng tâm lý phòng thủ trên thị trường tài chính toàn cầu, đẩy dòng tiền về các tài sản an toàn. Điều này có thể khiến USD mạnh lên, tạo áp lực tỷ giá với các nền kinh tế mới nổi. Doanh nghiệp nhập khẩu chịu rủi ro tỷ giá, trong khi doanh nghiệp xuất khẩu lại đối mặt nguy cơ thu hẹp cầu tiêu dùng tại các thị trường bị ảnh hưởng.

Chú thích ảnh
Dây chuyền chế biến sản phẩm xoài đông lạnh xuất khẩu ở nhà máy của Công ty Cổ phần Rau quả thực thẩm An Giang. Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN

Ở góc độ lý luận chính trị, kinh tế, đây là minh chứng cho tính chất “liên thông cấu trúc” của kinh tế toàn cầu: Xung đột quân sự khu vực có thể chuyển hóa thành rủi ro kinh tế vĩ mô xuyên biên giới. Với Việt Nam, nền kinh tế định hướng xuất khẩu và hội nhập sâu, mọi cú sốc địa chính trị đều truyền dẫn nhanh chóng vào khu vực doanh nghiệp.

Ông có những khuyến nghị gì đối với doanh nghiệp đang làm ăn với khu vực Trung Đông?

Để có thể chủ động quản trị rủi ro địa chính trị, các doanh nghiệp cần rà soát lại hợp đồng, điều khoản thanh toán, bảo hiểm và điều kiện giao hàng (Incoterms); đa dạng hóa đối tác, tránh phụ thuộc quá mức vào một thị trường hoặc một tuyến vận tải.

Doanh nghiệp xuất nhập khẩu cần cân nhắc các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá (hedging), đàm phán lại điều khoản giá linh hoạt theo biến động chi phí nhiên liệu và vận tải.

Về tái cấu trúc thị trường, Trung Đông vẫn là thị trường tiềm năng lớn về lương thực, thực phẩm halal (các loại thực phẩm, đồ uống được cho phép tiêu thụ theo luật Hồi giáo), vật liệu xây dựng và hàng tiêu dùng. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần phân tán rủi ro sang các thị trường khác như Nam Á, châu Phi hoặc ASEAN để bảo đảm an toàn dòng tiền.

Về phía Nhà nước, tôi kiến nghị cần điều hành linh hoạt chính sách tiền tệ và tỷ giá, ổn định tâm lý thị trường, tránh biến động đột ngột; cập nhật sớm cảnh báo thương mại và an ninh vận tải cho doanh nghiệp thông qua hệ thống thương vụ và đại sứ quán.

Đặc biệt, cần phải hỗ trợ tín dụng và bảo hiểm xuất khẩu, đặc biệt với doanh nghiệp nhỏ và vừa; tăng cường đàm phán thương mại song phương và đa phương, bảo đảm hành lang pháp lý an toàn cho thanh toán và vận chuyển.

Về mặt thực tiễn, trong mọi cuộc khủng hoảng địa chính trị, những doanh nghiệp có năng lực quản trị rủi ro tốt, dự trữ tài chính lành mạnh và chiến lược thị trường linh hoạt thường không chỉ “sống sót” mà còn mở rộng được thị phần khi đối thủ yếu đi. Thách thức hiện nay không chỉ là biến động giá dầu hay vận tải, mà là năng lực thích ứng chiến lược của doanh nghiệp Việt Nam trong một trật tự kinh tế thế giới ngày càng bất định.

Trân trọng cảm ơn ông!

Minh Phương/Báo Tin tức và Dân tộc (thực hiện)