Hàng trăm tấn vàng nằm im trong dân đang trở thành điểm nghẽn lớn của nền kinh tế khi dòng tiền bị hút vào tích trữ thay vì chảy vào sản xuất. Theo các chuyên gia kinh tế - tài chính, đây không còn là câu chuyện đầu tư cá nhân, mà là vấn đề vĩ mô cần được khơi thông bằng những chính sách đủ mạnh và trúng trọng tâm nhằm quản lý tốt thị trường vàng, khơi niềm tin trong nhân dân.
Khi niềm tin dồn vào két sắt
Tại cửa hàng vàng Mi Hồng (đường Bùi Hữu Nghĩa, phường Gia Định, TP Hồ Chí Minh), anh Xuân Thụ (ngụ phường Bình Thạnh) đứng lặng lẽ, trên tay cầm những chứng từ mua vàng với đôi mắt trũng sâu vì nhiều đêm mất ngủ. Anh không đến tiệm vàng để chen chân mua thêm mà để đối diện với một thực tại nghiệt ngã: Cầm vàng nhưng lại rơi vào cảnh “kẹt vốn” trầm trọng.
Người dân chen chân mua vàng tại cửa hàng vàng Mi Hồng.
Câu chuyện của anh Thụ bắt đầu từ cuối năm 2025. Trước sức hút mãnh liệt của giá vàng và tâm lý lo ngại tài sản mất giá, anh đã dốc toàn bộ 700 triệu đồng tích cóp từ tiền tiết kiệm và tiền bán mảnh đất nhỏ ở quê để “đánh cược” vào vàng. Anh đã gom vàng ở mức giá 179 triệu đồng/lượng vào cận Tết âm lịch 2026.
Đến ngày 2/3/2026, khi vàng vọt lên đỉnh lịch sử hơn 190 triệu đồng/lượng, cứ ngỡ mình đã lãi lớn. Thế nhưng, “niềm vui ngắn chẳng tày gang”, giá vàng sau đó sụt giảm và mua vào quanh mức 171 triệu đồng/lượng liên tục trong nhiều ngày qua.
Nghịch lý ập đến khi gia đình anh Thụ cần gấp 500 triệu đồng để mua căn hộ chung cư. Anh Thụ rơi vào cảnh tiến thoái lưỡng nan. Vàng thì có nhưng túi thì rỗng. "Nếu bán vàng để lo việc gia đình thì tôi lỗ không nhỏ", anh Thụ chia sẻ.
Trường hợp của anh Thụ không phải là cá biệt. Trước cửa hàng vàng Trung tâm Vàng bạc đá quý Sài Gòn - SJC (đường Nguyễn Thị Minh Khai, phường Bàn Cờ) và Mi Hồng (đường Bùi Hữu Nghĩa, phường Gia Định). Đáng chú ý, dòng người xếp hàng mỗi lúc một dài thêm, nối đuôi nhau nhẫn nại giành chỗ, tràn ra cả vỉa hè chờ đến giờ mở cửa để mua vàng.
Chuyên gia kinh tế tài chính - Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu nhận định: "Vàng hiện vẫn là nơi trú ẩn an toàn so với chứng khoán hay bất động sản. Tuy nhiên, việc người dân ồ ạt rút tiền từ ngân hàng để mua vàng cất két đang tạo ra một dòng chảy ngược nguy hiểm.
Sự nguy hiểm nằm ở chỗ hiện tượng này đã lan rộng với tâm lý sợ bị bỏ lỡ (FOMO), khiến dòng vốn lẽ ra phải chảy vào sản xuất, kinh doanh để tạo ra giá trị thặng dư, thì nay lại bị khóa chặt trong những chiếc két sắt. Khi hệ thống ngân hàng rơi vào trạng thái “đói vốn”, buộc phải đẩy lãi suất huy động lên mức 7 - 8%/năm để thu hút tiền gửi. Hệ quả tất yếu là lãi suất cho vay tăng theo, trực tiếp “bóp nghẹt” các doanh nghiệp đang chật vật tìm đường hồi sinh.
Ước tính, có tới 400 - 500 tấn vàng (tương đương hơn 40 tỷ USD) đang nằm im trong dân. Khối tài sản này đang gây áp lực ngược lên vĩ mô, làm tăng áp lực tỷ giá và kích thích tình trạng buôn lậu qua biên giới. Những thỏi vàng nằm im đang trở thành vật cản cho sự phát triển chung, đặt ra yêu cầu cấp bách về một giải pháp mạnh mẽ để biến chúng thành nguồn lực thực sự cho nền kinh tế.
Cần công cụ đủ mạnh để người dân tự nguyện “bung vốn”
Theo các chuyên gia kinh tế - tài chính, trong nhiều năm, Nghị định 24/2012/NĐ-CP đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh chống “vàng hóa”, nhưng bước sang năm 2026, trước những biến động khốc liệt của địa chính trị thế giới, chiếc áo cơ chế cũ dường như đã trở nên quá chật hẹp.
Chuyên gia Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, trong bối cảnh các xung đột tại Trung Đông leo thang, giá vàng thế giới bị biến động mạnh và đẩy lên cao, trong khi hầu hết tâm lý của các nhà đầu tư hiện tại vẫn xem vàng là nơi trú ẩn tài chính an toàn so với chứng khoán hay bất động sản. Tuy nhiên, việc dòng vốn đổ xô vào vàng thay vì chảy vào hệ thống ngân hàng, đang tạo ra một nghịch lý lớn cho điều hành vĩ mô.
Hầu hết tâm lý của các nhà đầu tư hiện tại vẫn xem vàng là nơi trú ẩn tài chính an toàn.
Theo chuyên gia Nguyễn Trí Hiếu, khi dòng tiền bị vàng hút chặt, các ngân hàng buộc phải bước vào cuộc đua tăng lãi suất huy động để giữ chân tiền gửi. Thực tế cho thấy, từ giữa tháng 3 đến nay, lãi suất huy động đã đẩy lên hơn 7%/năm, thậm chí có ngân hàng đến hơn 9%. Hệ quả tất yếu là mặt bằng lãi suất cho vay cũng sẽ bị đẩy lên cao, trực tiếp “vô hiệu hóa” các nỗ lực hỗ trợ doanh nghiệp.
"Theo quy luật nước lên thì thuyền lên, huy động tăng ắt dẫn đến cho vay tăng, với biên độ chênh lệch đầu vào - đầu ra khoảng 3%. Trong bối cảnh đầu tư nước ngoài và ngoại thương đang đứng trước nhiều rủi ro, đây sẽ là những tác động tiêu cực rất lớn. Năm 2026 thực sự là một năm đầy thử thách cho kinh tế Việt Nam", Nguyễn Trí Hiếu nhấn mạnh.
Trước đó, tháng 8/2025, sự ra đời của Nghị định 232/2025/NĐ-CP được xem là bước ngoặt khi chính thức xóa bỏ cơ chế Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng. Điều này cho phép các ngân hàng thương mại và doanh nghiệp đủ điều kiện tham gia nhập khẩu, giúp thu hẹp khoảng cách vô lý giữa giá vàng trong nước và thế giới. Tuy nhiên, các chuyên gia kinh tế cho rằng, nếu chỉ dừng lại ở việc “mở van” nguồn cung thì vẫn chưa đủ để đánh thức hàng trăm tấn vàng đang nằm im trong những chiếc két sắt gia đình.
Tiến sĩ Nguyễn Tuấn Anh, Giảng viên Tài chính Đại học RMIT Việt Nam cho rằng, thay vì dùng các mệnh lệnh hành chính vốn chỉ xử lý được “phần ngọn”, Nhà nước cần những công cụ thị trường đủ mạnh để người dân tự nguyện “bung” vốn. Một trong những kiến nghị trọng tâm mà ông đưa ra là việc nghiên cứu triển khai trái phiếu vàng Quốc gia (Vietnam Sovereign Gold Bonds - VSGB). Đây là công cụ không chỉ tôn trọng quyền sở hữu tài sản của người dân, mà còn chuyển hóa hiệu quả vàng thành nguồn lực phát triển kinh tế.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Tuấn Anh, việc “tài chính hóa” vàng qua các công cụ như trái phiếu hay chứng chỉ vàng (Gold Certificates) sẽ tạo ra một mũi tên trúng nhiều đích. Người dân vẫn là chủ sở hữu tài sản, vẫn hưởng lợi khi giá thế giới tăng, nhưng quan trọng nhất là lượng vốn “chết” khổng lồ đó sẽ được khơi thông.
“Với hàng trăm tấn vàng trong dân, nếu chỉ cần huy động thành công 15 - 20% qua cơ chế này, nền kinh tế sẽ có ngay 6 - 9 tỷ USD nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho các dự án hạ tầng trọng điểm hay chuyển đổi số, mà không làm tăng áp lực nợ công hay lạm phát. Những bài học thành công từ Ấn Độ hay Thổ Nhĩ Kỳ là minh chứng rõ nhất cho việc biến dòng vốn “ngủ đông” thành động lực tăng trưởng thực chất”, Tiến sĩ Nguyễn Tuấn Anh khẳng định.
Ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi (NTU):
Khi người dân ưu tiên nắm giữ vàng, họ đang tự bảo hiểm trước rủi ro lạm phát, tỷ giá và sự hạn chế của các kênh đầu tư. Tuy nhiên, hệ quả là một nguồn lực lớn bị “đóng băng”, không đi vào sản xuất - kinh doanh, làm giảm hiệu quả phân bổ vốn và kìm hãm tăng trưởng. Vì vậy, trong ngắn hạn, Nhà nước cần ưu tiên ổn định kỳ vọng thị trường thông qua điều hành chính sách tiền tệ nhất quán, minh bạch, có khả năng dự báo, qua đó củng cố niềm tin vào đồng nội tệ; đồng thời cần thu hẹp chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới bằng cơ chế cung ứng linh hoạt để giảm động cơ đầu cơ, tích trữ.
Về giải pháp, Nhà nước có thể nghiên cứu các công cụ tài chính như chứng chỉ vàng, sản phẩm hoán đổi vàng - tiền nhằm chuyển hóa vàng vật chất thành nguồn lực tài chính, nhưng phải đi kèm cơ chế kiểm soát rủi ro chặt chẽ để không gây xáo trộn tâm lý người dân. Khi niềm tin được củng cố, kênh đầu tư được mở rộng, vàng sẽ trở về đúng vai trò là tài sản phòng ngừa, còn nguồn lực trong dân sẽ được khơi thông cho tăng trưởng bền vững.
TS Nguyễn Tuấn Anh, Giảng viên Tài chính Đại học RMIT Việt Nam:
Một hệ lụy trực tiếp mà ít người để ý là áp lực lên tỷ giá thị trường tự do. Với nhu cầu vàng trên 50 tấn/năm, trong khi nguồn cung chính thống hạn chế, một lượng lớn ngoại tệ đang bị hút vào các kênh nhập lậu. Điều này gây khó khăn trực tiếp cho việc điều hành chính sách tiền tệ.
Bên cạnh đó, việc siết quản lý thuế TNCN 0,1% trên vàng miếng vô hình trung khiến người dân càng muốn giữ vàng vật chất để đảm bảo tính ẩn danh. Chính phủ cần thiết kế các gói ưu đãi thuế thực chất cho khu vực sản xuất, đặc biệt là nâng ngưỡng doanh thu không chịu thuế cho hộ kinh doanh để phù hợp với mức trượt giá hiện nay.
Khi đồng nội tệ giữ được sức mua ổn định và môi trường kinh doanh thực thu hấp dẫn hơn tích trữ, người dân sẽ tự nguyện “bung” tiền ra. Chúng ta cần những “đường ống” dẫn vốn minh bạch để vàng không còn là tài sản phòng thủ đơn thuần.