03:22 23/03/2016

Khi nguồn nước bị chính trị hóa

Ngày Nước Thế giới 22/3 vừa diễn ra năm nay được coi là một cơ hội để nhiều quốc gia nhìn nhận, đánh giá về thực trạng sử dụng nguồn nước của mình, từ đó nhận ra rằng nước ngày càng trở thành một nhân tố chiến lược quyết định trong các vấn đề khu vực và toàn cầu.

Vũ khí chiến tranh

Năm 2015, Báo cáo Phát triển Nước Thế giới của Liên hợp quốc một lần nữa nhấn mạnh: Khoảng cách ngày càng lớn giữa nguồn cung và mức cầu về nước có thể tạo ra xung đột giữa các quốc gia. Diễn đàn Kinh tế Thế giới đã xếp khủng hoảng nước là một mối đe dọa toàn cầu đáng lo ngại nhất, nguy hiểm hơn cả tấn công khủng bố hay khủng hoảng tài chính, dễ xảy ra hơn so với việc sử dụng vũ khí hủy diệt hàng loạt.

Nguồn nước có ý nghĩa sống còn với con người.


Nghiên cứu của Tổ chức Tầm nhìn Chiến lược đã chỉ ra tầm quan trọng của việc quản lý nước một cách khôn ngoan: Các nước cùng quản lý chung nguồn nước gần như không bao giờ gây chiến với nhau. Khu vực Tây Á là một ví dụ bi kịch cho thấy hậu quả của việc thiếu hợp tác trong quản lý nguồn nước sẽ là như thế nào. Iraq, Syria và Thổ Nhĩ Kỳ đã tranh giành nhau từng mét khối nước trên sông Tigris và Eupharates. Không quốc gia nào thắng trong cuộc chiến nước này khi mà các nhân tố phi nhà nước kiểm soát những khúc quan trọng nhất của hai lưu vực sông nói trên.

Một nhân tố phi chính phủ ở đây là tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi giáo (IS). IS đã chiếm những con đập và tài sản quan trọng trên sông Tigris và Euphrates và đã, đang sử dụng nước làm một thứ vũ khí. Người dân ở thành phố Aleppo ở Syria thường xuyên bị cắt điện và nước có chủ ý. Nguồn cung nước ở Aleppo phụ thuộc vào hoạt động của các trạm bơm và trạm điện nhưng mỗi một trạm lại do một bên khác nhau ở Syria quản lý. Hoạt động của các trạm thường được sử dụng để gây áp lực lên kẻ thù.

Theo bà Marianne Gasser, Giám đốc phái đoàn Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế (ICRC), nước thường xuyên trở thành công cụ của các bên tham chiến và dân thường là người lĩnh hậu quả. Theo bà Gasser, tiếp cận nguồn nước cần trở thành thứ vô điều kiện và nước phải không dính dáng đến chính trị trong xung đột tại Syria.

Tại Iraq, IS cũng dùng nước là thứ vũ khí tối thượng. Năm 2015, IS đã đóng các cửa xả nước của một đập thủy điện tại phía tây Iraq. IS cũng từng khiến người dân ở các tỉnh phía nam có nguy cơ chịu hạn hán khi điều chỉnh dòng chảy của sông Euphrates, để giúp chúng có thể tiếp cận quân chính phủ dễ hơn ở bờ nam.

Hợp tác vì lợi ích chung

Lẽ ra các nước như Iraq, Jordan, Liban, Syria hay Thổ Nhĩ Kỳ có thể tránh được bi kịch nếu bắt tay nhau thay vì giơ nắm đấm đề giành giật nguồn nước. Nếu thành lập một tổ chức siêu quốc gia, tổ chức này có thể đưa ra các chiến lược chung để quản lý hạn hán, phối hợp trồng các vụ mùa, phát triển tiêu chuẩn chung để giám sát dòng chảy của sống, thực hiện các kế hoạch đầu tư nhằm tạo kế sinh nhau và phát triển công nghệ xử lý nước.

Nếu như khu vực Trung Đông thất bại trong hợp tác quản lý nước, thì các khu vực khác lại khá thành công trong hợp tác. Các nước có chung sông ở châu Phi, Đông Á và Mỹ Latinh đã nhận ra rằng lợi ích quốc gia và ổn định khu vực có thể được củng cố nếu đặt nhu cầu của con người lên trên vấn đề nước mạnh, nước yếu.

Năm ngoái, cộng đồng quốc tế đã thông qua Mục tiêu Phát triển Bền vững của Liên hợp quốc, trong đó cam kết đảm bảo nguồn nước, quản lý nước bền vững và vệ sinh cho tất cả mọi người. Một phần trong cam kết này là nhở rộng hợp tác quốc tế trong vấn đề nước. Tuy nhiên, cần lưu ý một điều rằng hợp tác về nước không chỉ đơn thuần là đặt bút ký các hiệp ước hay tổ chức các cuộc họp. Các nước cần phải hiện thực hóa thông qua các dự án cơ sở hạ tầng chung, quản lý lũ lụt và hạn hán, phát triển chiến lược chung để chống biến đổi khí hậu, đảm bảo chất lượng nguồn nước…

Chỉ số hợp tác về nước do Tổ chức Tầm nhìn Chiến lược tạo ra là một công cụ hợp tác để giúp các nước chung lưu vực sông và hồ giám sát mức độ hợp tác. Trong số 263 lưu vực sông chung hiện nay, chỉ có một phần tư có sự quản lý và hợp tác chung hiệu quả.

Đối với người nghèo ở các nước đang phát triển, hợp tác xuyên biên giới về nguồn nước có thể mang lại lợi ích quan trọng, giúp tổng sản phẩm quốc nội có thể dễ dàng tăng thêm một điểm phần trăm. Riêng ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, hàng triệu người đang phụ thuộc trực tiếp vào dòng nước. Dòng chảy giảm, nguồn cung nước giảm có thể khiến nguồn thủy sản sụt giảm, ruộng đồng tàn lụi, nhà máy đóng cửa, cuộc sống và kế sinh nhai của một nửa lực lượng lao động thế giới lâm vào cảnh khó khăn. Trái lại, khi nguồn cung nước dồi dào, nước không chỉ giúp phục hồi kinh tế mà còn có thể đảm bảo môi trường sinh thái bền vững.

Tính trên toàn cầu, một nửa việc làm trong các ngành nghề liên quan trực tiếp đến nước như nông nghiệp, công nghiệp nặng, thủy hải sản. Như ở Thái Lan, ước tính 40% lực lượng lao động làm trong ngành nông nghiệp. Tính trung bình ở Đông Nam Á, tỷ lệ lao động nông nghiệp là 39%. Ngoài ra, lao động trong ngành thủy hải sản tăng nhanh từ năm 1990 với 84% trong số 60 triệu việc làm trong ngành này là ở châu Á.

Những con số trên cho thấy kế sinh nhai của hàng triệu người phụ thuộc vào nước. Do đó, nếu mỗi quốc gia không quản lý nguồn nước một cách thận trọng, hậu quả sẽ rất tàn khốc. Điều quan trọng hơn, nếu các nước đang phát triển có chung lưu vực sông biết hợp tác với nhau, lợi ích sẽ là rất lớn.
Thùy Dương