Lịch sử cho thấy, mỗi bước phát triển của đất nước đều gắn với việc mở rộng không gian đối ngoại. Hôm nay cũng vậy. Trong một thế giới biến động nhanh và cạnh tranh gay gắt, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ hiệu quả các nguồn lực bên ngoài là yêu cầu chiến lược. Nghị quyết số 06-NQ/TW của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng là bước phát triển mới trong tư duy đối ngoại khi coi đây là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, là tiên phong kiến tạo cục diện quốc tế thuận lợi cho phát triển đất nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo Hội nghị quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN
Tại Hội nghị quán triệt Nghị quyết số 06-NQ/TW, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh, sự phát triển của Việt Nam không thể tách rời sự phát triển của khu vực và thế giới. Kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nội lực với ngoại lực không chỉ là một yêu cầu khách quan mà là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước.
Đây cũng chính là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong đường lối đối ngoại của Đảng ta và tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là từ khi bắt đầu công cuộc Đổi mới vào năm 1986 đến nay. Nhưng nếu trước đây nhiệm vụ trọng tâm của đối ngoại là phá thế bao vây, cấm vận, mở rộng quan hệ và tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng đất nước, thì nay, yêu cầu đặt ra đã cao hơn rất nhiều.
Và để thực hiện mục tiêu đến năm 2045 trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, đất nước cần những nguồn lực mới về vốn, công nghệ, tri thức, thị trường và nhân lực chất lượng cao. Trong khi đó, mô hình phát triển mới lấy khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu lại đòi hỏi mức độ kết nối quốc tế sâu rộng hơn bao giờ.
Đòi hỏi này hoàn toàn có cơ sở nếu nhìn lại quá trình 40 năm Đổi mới.
Từ một đất nước từng bị bao vây, cấm vận, Việt Nam ngày nay đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia, xây dựng 38 khuôn khổ quan hệ đối tác, là thành viên tích cực của hơn 70 tổ chức và diễn đàn quốc tế. Việt Nam có quan hệ kinh tế-thương mại với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, tham gia mạng lưới 20 hiệp định thương mại tự do. Từ một nền kinh tế nhiều khó khăn vào năm 1986, thì nay, quy mô nền kinh tế nước ta đã tăng gần 100 lần, trở thành một trong 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới, còn thu nhập bình quân đầu người tăng từ dưới 100 USD lên hơn 5.000 USD.
Từ việc gia nhập ASEAN năm 1995, tham gia APEC năm 1998, trở thành thành viên WTO năm 2007, đến việc tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA hay RCEP, Việt Nam không chỉ mở rộng thị trường mà còn từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút đầu tư, tiếp nhận công nghệ và tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu.
Hội nhập quốc tế đã thực sự trở thành một động lực quan trọng để nâng cao nội lực, phục vụ đắc lực cho công cuộc phát triển đất nước, trong đó có phát triển khoa học-công nghệ, giáo dục-đào tạo, y tế; đưa nền kinh tế Việt Nam lớn mạnh, hội nhập sâu rộng với thế giới.
Những con số ấy không đơn thuần phản ánh thành tựu của hội nhập. Điều quan trọng hơn là chúng cho thấy mỗi bước phát triển của đất nước đều gắn liền với mỗi bước mở rộng không gian đối ngoại.
Thế nên, điểm nổi bật nhất của Nghị quyết số 06-NQ/TW là lần đầu tiên đối ngoại được xác định là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên” bên cạnh quốc phòng, an ninh.
Đây là bước phát triển quan trọng về tư duy lãnh đạo của Đảng!
Trước đây, đối ngoại chủ yếu góp phần bảo vệ môi trường hòa bình và tranh thủ các điều kiện quốc tế thuận lợi cho phát triển. Ngày nay, đối ngoại được đặt ở vị trí tuyến đầu và trung tâm, góp phần nhận diện và ngăn ngừa nguy cơ xung đột từ sớm, từ xa, từ nơi xuất phát; đồng thời chủ động kiến tạo những điều kiện quốc tế thuận lợi nhất cho phát triển đất nước. Nói cách khác, đối ngoại đang được giao một sứ mệnh mới, rộng lớn hơn.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ rõ yêu cầu chuyển từ “ngoại giao bảo vệ không gian phát triển” sang “ngoại giao kiến tạo năng lực phát triển quốc gia”; từ “hội nhập thị trường” sang “kiến tạo thị trường”; từ “tham gia luật chơi” sang “góp phần định hình luật chơi”.
Đó chính là bước phát triển mới nổi bật nhất của đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng!
Tư duy ấy xuất phát từ chính thế và lực mới của đất nước. Khi Việt Nam đã xây dựng được mạng lưới quan hệ rộng khắp với các đối tác quan trọng trên thế giới, khi nền kinh tế có độ mở thuộc nhóm cao, khi khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo cùng chuyển đổi số trở thành động lực phát triển chủ yếu, khi cạnh tranh chiến lược và cạnh tranh công nghệ ngày càng quyết liệt, thì đối ngoại không thể chỉ dừng lại ở việc giữ gìn quan hệ hay thu hút nguồn lực theo cách truyền thống.
Đối ngoại phải chủ động mở ra các không gian phát triển mới. Đó là đa dạng hóa thị trường, đối tác và nguồn cung. Đó là chọn lọc nguồn vốn FDI, ưu tiên dự án công nghệ cao, liên kết sâu với trong nước, chuyển giao công nghệ thay vì chỉ chú trọng số lượng. Đó là thúc đẩy ngoại giao công nghệ, nhất là đổi mới sáng tạo, kết nối với các trung tâm khoa học-công nghệ hàng đầu thế giới. Đó là chủ động tham gia đề xuất xây dựng các khuôn khổ, quy tắc, tiêu chuẩn quốc tế trong những lĩnh vực mới.
Đó cũng là lý do Nghị quyết số 06-NQ/TW không chỉ đặt mục tiêu bảo đảm lợi ích quốc gia-dân tộc mà còn nhấn mạnh trách nhiệm đóng góp vào các công việc chung của cộng đồng quốc tế. Từ một quốc gia chủ yếu tham gia các cơ chế đa phương, Việt Nam ngày càng được kỳ vọng đóng góp nhiều hơn vào việc giải quyết những vấn đề chung, các thách thức toàn cầu như gìn giữ hòa bình, ứng phó biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, phát triển bền vững, viện trợ nhân đạo, cứu hộ cứu nạn.
Đây chính là bước phát triển tự nhiên của một đất nước đã có thế và lực mới!
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Thực lực như cái chiêng, ngoại giao như cái tiếng. Chiêng có tốt thì tiếng mới vang xa”. Nội lực luôn giữ vai trò quyết định. Nhưng để nội lực được phát huy cao nhất, cần tranh thủ tốt nhất những điều kiện thuận lợi từ bên ngoài.
Nghị quyết số 06-NQ/TW chính là sự kế thừa và phát triển đường lối đối ngoại toàn diện của Đảng ta và tư tưởng Hồ Chí Minh. Nếu hội nhập đã tạo dựng môi trường thuận lợi cho phát triển thì hôm nay, đối ngoại đi trước, bảo vệ và mở rộng không gian đó.
Tất cả là để đất nước vững vàng trên hành trình hướng tới năm 2045.