07:14 12/07/2026

Kết nối trí tuệ Việt - Bài cuối: Hình thành hệ sinh thái đủ mạnh để trí tuệ Việt bứt phá

Hiện nay, việc thu hút được người tài mới chỉ là bước khởi đầu để trí tuệ Việt Nam phát triển và vươn xa. Điều quan trọng hơn là xây dựng một hệ sinh thái đủ mạnh để các nhà khoa học, chuyên gia và doanh nhân Việt Nam ở khắp năm châu có môi trường nghiên cứu, sáng tạo và cống hiến lâu dài cho sự phát triển của đất nước.

Khi thể chế, nguồn lực và hạ tầng khoa học được hoàn thiện đồng bộ, dòng chảy trí tuệ Việt toàn cầu sẽ trở thành động lực quan trọng đưa Việt Nam bứt phá trong kỷ nguyên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. 

Chú thích ảnh
Một góc Khu công nghệ cao TP Hồ Chí Minh.

Phát huy giá trị của người có tài ở khắp năm châu

TS Nguyễn Đức Thái, kiều bào tại Hoa Kỳ với nhiều năm hợp tác cùng các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp trong nước, cho rằng điều đáng quý nhất của cộng đồng trí thức Việt Nam ở nước ngoài chính là tinh thần hướng về quê hương. Dù đang làm việc tại những trung tâm khoa học hàng đầu thế giới, phần lớn các nhà khoa học Việt đều mong muốn có cơ hội đóng góp cho sự phát triển của đất nước nếu có cơ chế phù hợp.

Ông Nguyễn Đức Thái cũng cho biết, hiện có hàng trăm giáo sư, tiến sĩ người Việt đang giữ những vị trí quan trọng tại các trường đại học và tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới như: Đại học Harvard, Đại học California San Francisco, Đại học RMIT, Đại học Stanford, cùng các tập đoàn như Google, Intel... Đây không chỉ là lực lượng có trình độ chuyên môn cao mà còn sở hữu mạng lưới hợp tác quốc tế rộng lớn, có khả năng kết nối những công nghệ tiên tiến, phương pháp quản trị hiện đại và các dự án nghiên cứu quy mô lớn với Việt Nam.

Theo TS Nguyễn Đức Thái, đây là cơ hội hiếm có để Việt Nam rút ngắn khoảng cách phát triển khoa học - công nghệ với các quốc gia tiên tiến. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành hiện thực, cần có những chính sách đủ mạnh và môi trường nghiên cứu đủ sức cạnh tranh.

"Để không bỏ lỡ cơ hội lịch sử này, Việt Nam cần thực hiện tốt ba nhiệm vụ quan trọng. Thứ nhất là bố trí nguồn tài chính đủ mạnh để các chuyên gia có điều kiện hoàn thành những nhiệm vụ khoa học lớn. Thứ hai là xây dựng các trung tâm nghiên cứu đạt tiêu chuẩn quốc tế, có đủ hạ tầng và trang thiết bị hiện đại. Thứ ba là thiết lập cơ chế đặc biệt thúc đẩy chuyển giao công nghệ để những kết quả nghiên cứu nhanh chóng được ứng dụng vào thực tiễn", TS Nguyễn Đức Thái chia sẻ thêm.

Theo ông Thái, trong cuộc cạnh tranh toàn cầu về công nghệ hiện nay, nhiều quốc gia đều coi nhân tài là tài sản chiến lược. Vì vậy, Việt Nam cần chủ động hơn trong việc xây dựng những chương trình hợp tác dài hạn thay vì chỉ dừng ở các hoạt động gặp gỡ hay hội thảo. "Tôi xin trân trọng mời gọi những nhân tài Việt Nam tâm huyết ở khắp năm châu cùng chung tay đưa Việt Nam trở thành trung tâm khoa học và công nghệ của khu vực trong thập niên tới", TS Nguyễn Đức Thái cho biết thêm.

Chú thích ảnh
Đầu tư cho khoa học, công nghệ và nhân lực chất lượng cao được xem là chìa khóa để Việt Nam bứt phá trong kỷ nguyên số.

Đồng quan điểm, PGS.TS Trần Lê Hưng, Đại học Gustave Eiffel (Pháp), cho rằng việc trọng dụng nhân tài luôn là chủ trương xuyên suốt của Đảng và Nhà nước trong mọi giai đoạn phát triển. Nếu trước đây nhiều trí thức trở về theo tiếng gọi của Tổ quốc trong những năm kháng chiến và tái thiết đất nước thì ngày nay, khi Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam toàn cầu càng trở nên quan trọng hơn.

Theo ông Hưng, lực lượng này không chỉ mang về tri thức mới mà còn là cầu nối để chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, kết nối các mạng lưới nghiên cứu quốc tế và đồng hành cùng các nhà khoa học trong nước giải quyết những bài toán lớn của quốc gia. Đặc biệt, sau khi Nghị quyết số 57-NQ/TW được ban hành, công tác thu hút và trọng dụng nhân tài đã có nhiều chuyển biến tích cực. Hàng loạt cơ chế mới được xây dựng với sự tham gia của nhiều bộ, ngành và địa phương, từng bước tạo hành lang pháp lý thông thoáng hơn cho đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học.

Tuy nhiên, theo PGS.TS Trần Lê Hưng, điều quan trọng hơn cả là phải biến các chủ trương thành những chính sách có thể thực thi hiệu quả. Thu hút người tài không thể chỉ dừng ở chính sách đãi ngộ mà cần xây dựng một môi trường nghiên cứu chuyên nghiệp, cạnh tranh lành mạnh, nơi mỗi ý tưởng sáng tạo đều có cơ hội được hiện thực hóa và thương mại hóa. Chỉ khi đó, Việt Nam mới thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn đối với đội ngũ trí thức trong và ngoài nước.

Biến chất xám thành động lực phát triển

Theo các chuyên gia công nghệ, trong cuộc cạnh tranh toàn cầu về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, lợi thế của mỗi quốc gia ngày càng được quyết định bởi khả năng thu hút, phát huy và giữ chân nhân tài, cùng với việc đầu tư hạ tầng nghiên cứu hiện đại. Vì vậy, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện thể chế và xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đồng bộ để nguồn lực trí tuệ Việt Nam toàn cầu thực sự trở thành động lực phát triển đất nước.

Theo ông Hưng, để chính sách phát huy hiệu quả sau khi Nghị quyết số 57-NQ/TW được ban hành, cần có cách tiếp cận đồng bộ, gắn với nhu cầu phát triển của từng giai đoạn và từng lĩnh vực chiến lược như trí tuệ nhân tạo (AI), công nghiệp bán dẫn, năng lượng, hạ tầng hay vật liệu mới.

Chú thích ảnh
Hệ thống giao thông công cộng được ứng dụng các công nghệ hiện đại của Nhật Bản trong vận hành để phát triển kinh tế - xã hội TP Hồ Chí Minh.

Bên cạnh việc tiếp cận công nghệ tiên tiến của thế giới, theo ông Hưng, Việt Nam cần ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, bởi con người mới là chủ thể của đổi mới sáng tạo. Đồng thời, cần tháo gỡ những "điểm nghẽn" trong kết nối giữa đội ngũ chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài với các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp trong nước để họ có thể nhanh chóng tham gia các chương trình nghiên cứu trọng điểm.

Ngoài ra, ông Hưng cũng đề xuất xây dựng môi trường nghiên cứu mở theo hướng tăng cường liên kết giữa trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp; đẩy mạnh chia sẻ hạ tầng nghiên cứu, phòng thí nghiệm và cơ sở dữ liệu. Bên cạnh đó, Nhà nước cần có cơ chế đặt hàng các nhiệm vụ khoa học lớn, tạo điều kiện để các nhóm nghiên cứu mạnh giải quyết những bài toán phát triển của đất nước, đồng thời tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo hộ sở hữu trí tuệ nhằm khuyến khích thương mại hóa các kết quả nghiên cứu và phát triển các sản phẩm "Make in Vietnam".

Những kiến nghị này đang từng bước được cụ thể hóa trong hệ thống chính sách mới. Theo bà Vũ Thị Là, Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ (Bộ Khoa học và Công nghệ), Bộ đã rà soát toàn diện các cơ chế, chính sách về thu hút và trọng dụng nhân tài, đồng thời tham mưu Ban Chỉ đạo Trung ương tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW.

Đến nay, Việt Nam đã hình thành hệ thống gồm 10 luật, 12 nghị định và 6 quyết định của Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh các chính sách phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ. Nổi bật là Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, Nghị định số 179 về chính sách thu hút, trọng dụng người có tài năng; Nghị định số 249 về cơ chế thu hút chuyên gia khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, trong đó có người Việt Nam ở nước ngoài; cùng Nghị định số 263 hướng dẫn thi hành Luật với nhiều quy định dành cho nhà khoa học trẻ tài năng, kỹ sư trẻ tài năng và chuyên gia đầu ngành.

Theo bà Vũ Thị Là, điểm đột phá của hệ thống chính sách mới là cơ chế đãi ngộ được thiết kế theo hướng cạnh tranh và linh hoạt hơn. Lần đầu tiên, các tổ chức chủ trì nhiệm vụ khoa học và công nghệ được ký hợp đồng với nhà khoa học theo mức lương không áp dụng trần. Nhà khoa học trẻ tài năng có thể được hưởng phụ cấp tăng thêm tới 150%, trong khi các chuyên gia đầu ngành được hưởng phụ cấp lên tới 300%, cùng cơ chế thưởng theo kết quả nghiên cứu. Song song đó là việc mở rộng quyền tự chủ học thuật, tạo điều kiện sử dụng cơ sở nghiên cứu hiện đại, tham gia các nhóm nghiên cứu mạnh, đào tạo ở nước ngoài nhưng vẫn hưởng nguyên lương, cùng nhiều chính sách hỗ trợ về nhà ở và chăm sóc sức khỏe.

Chú thích ảnh
Hoạt động nghiên cứu tại Trung tâm Điện tử và Vi mạch bán dẫn Khu Công nghệ cao TP Hồ Chí Minh.

Ở góc độ quản lý, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Bùi Hoàng Phương cho rằng, hệ thống chính sách hiện nay về cơ bản đã khá đầy đủ. Vấn đề quan trọng không còn là thiếu cơ chế mà là tổ chức thực hiện hiệu quả trong thực tiễn. Theo đó, các chính sách mới được ban hành cần có thời gian để phát huy tác dụng, đồng thời đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương, trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp.

"Hiệu quả của chính sách không chỉ nằm ở nội dung quy định mà còn phụ thuộc vào mức độ chủ động của các cơ quan, đơn vị trong quá trình triển khai. Việc mạnh dạn áp dụng các cơ chế mới về tiền lương, đãi ngộ và quyền tự chủ sẽ quyết định khả năng thu hút, giữ chân đội ngũ nhà khoa học chất lượng cao", Thứ trưởng Bùi Hoàng Phương nhấn mạnh.

Theo lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ, trong quá trình triển khai, nếu phát sinh khó khăn, vướng mắc, Bộ sẽ tiếp tục phối hợp với các cơ quan liên quan để hướng dẫn thực hiện, rà soát và kịp thời đề xuất sửa đổi những quy định chưa phù hợp. Đây được xem là điều kiện quan trọng để các chính sách đi vào cuộc sống, tạo môi trường nghiên cứu và đổi mới sáng tạo hấp dẫn hơn, góp phần thu hút và phát huy hiệu quả nguồn lực trí thức Việt Nam trong và ngoài nước.

Bài, ảnh: Hoàng Tuyết - Xuân Cường - Lưu Niệm/Báo Tin tức và Dân tộc