07:12 13/07/2026

Kết nối đúng, người tài sẽ tìm về đóng góp cho quê hương

Nghị quyết 57 đã tạo chuyển biến tích cực trong chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài, mở ra nhiều cơ hội để đội ngũ trí thức Việt Nam ở nước ngoài đóng góp cho quê hương.

Theo PGS.TS Trần Lê Hưng (Đại học Gustave Eiffel, Pháp –lĩnh vực nghiên cứu đường sắt cao tốc), để người tài thực sự trở về và cống hiến, điều quan trọng không chỉ là cơ chế đãi ngộ mà còn là xây dựng môi trường nghiên cứu thuận lợi, cơ chế kết nối hiệu quả và tạo điều kiện để họ phát huy năng lực. Phóng viên báo Tin tức và Dân tộc đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Trần Lê Hưng xung quanh chủ đề trên.

Từ khi có Nghị quyết 57, ở nước ngoài, ông thấy có những thay đổi gì trong việc thu hút nhân tài về Việt Nam?

Có thể khẳng định, chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài luôn là một trong những ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước, được thể hiện xuyên suốt qua nhiều giai đoạn phát triển của đất nước.

Trong thời kỳ kháng chiến, nhiều nhân sĩ, trí thức đã theo tiếng gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Cách mạng trở về phục vụ Tổ quốc. Sau khi hòa bình lập lại, nhiều trí thức tiếp tục trở về xây dựng đất nước sau thời gian học tập, làm việc ở nước ngoài.

Đến hôm nay, khi Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, vai trò của đội ngũ trí thức càng trở nên quan trọng. Đây là lực lượng tiếp cận những tri thức tiên tiến của thế giới, có khả năng chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực và đồng hành cùng đội ngũ trong nước giải quyết các bài toán phát triển.

Chú thích ảnh
PGS.TS Trần Lê Hưng (Đại học Gustave Eiffel, Pháp).

Kể từ khi có Nghị quyết số 57-NQ/TW, công tác thu hút, trọng dụng nhân tài được triển khai mạnh mẽ hơn với sự vào cuộc của nhiều bộ, ngành và địa phương. Nhiều cơ chế đặc thù về đãi ngộ đã được ban hành, tạo hành lang pháp lý thông thoáng hơn và xây dựng môi trường thuận lợi để việc thu hút nhân tài không chỉ dừng ở khẩu hiệu mà từng bước đi vào thực chất.

Tuy nhiên, bên cạnh thu hút, chúng ta cũng cần đặc biệt quan tâm đến việc giữ chân người tài. Việt Nam cần trở thành môi trường phát triển lý tưởng, nơi mọi sáng kiến được trân trọng, mọi năng lực được phát huy và mọi khát vọng cống hiến đều có cơ hội trở thành hiện thực. Đó mới là nền tảng để đất nước bứt phá trong kỷ nguyên mới.

Theo ông, điều gì vẫn còn thiếu để thu hút nhân tài người Việt trở về đóng góp cho quê hương? Qua thực tế làm việc và trao đổi với cộng đồng người Việt ở nước ngoài, ông thấy còn những khoảng cách nào giữa chính sách và thực tiễn?

Có thể nói, hệ thống chính sách hiện nay đã khá rõ ràng. Tuy nhiên, điều quan trọng là các giải pháp phải được triển khai đồng bộ, nhất quán và tạo dựng được môi trường cạnh tranh lành mạnh.

Chú thích ảnh
PGS.TS Trần Lê Hưng tham gia trong một diễn đàn tuổi trẻ mới đây.

Việc thu hút nhân tài cũng cần có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước và từng nhóm đối tượng cụ thể, thay vì triển khai dàn trải. Chẳng hạn, hiện nay Việt Nam đang ưu tiên các lĩnh vực như hạ tầng, năng lượng, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo… Bên cạnh việc tiếp nhận công nghệ từ bên ngoài thì đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao mới là yếu tố quyết định, bởi con người chính là chủ thể của đổi mới sáng tạo.

Theo tôi, chúng ta vẫn còn thiếu một cơ chế kết nối hiệu quả giữa nhu cầu và nguồn lực. Nhiều người Việt ở nước ngoài muốn trở về nhưng băn khoăn sẽ làm việc ở đâu, đảm nhận vị trí gì và có cơ hội phát triển như thế nào. Ngược lại, nhiều cơ quan, đơn vị có nhu cầu tuyển dụng nhưng chưa tiếp cận được những ứng viên phù hợp.

Ngoài ra, những người được đào tạo ở nước ngoài khi trở về cũng có thể gặp khó khăn trong việc thích nghi với môi trường làm việc, văn hóa tổ chức hay các thủ tục hành chính. Đây là điều dễ hiểu bởi mỗi quốc gia đều có những đặc thù riêng. Những băn khoăn đó là tâm lý phổ biến của không ít người đang mong muốn đóng góp cho đất nước.

Bên cạnh đó, cũng cần nhìn nhận rằng không phải ai cũng có điều kiện trở về ngay. Trong nhiều trường hợp, người Việt Nam ở nước ngoài vẫn có thể đóng góp rất hiệu quả thông qua các hình thức làm việc từ xa, tham gia các dự án nghiên cứu, tư vấn hoặc làm việc bán thời gian theo các cơ chế đặc thù.

Thực tế, khi một chính sách được ban hành luôn cần có thời gian để đánh giá hiệu quả. Về định hướng, chính sách của Việt Nam đã khá rõ, nhưng cách tiếp cận thông tin vẫn còn hạn chế. Không ít người vẫn đặt câu hỏi về tính khả thi khi chính sách đi vào thực tiễn.

Ngoài những khác biệt về môi trường và văn hóa, việc thiếu kỹ năng quản lý phù hợp với bối cảnh trong nước hoặc một số chứng chỉ, thủ tục cần thiết cũng có thể trở thành rào cản. Hơn nữa, nếu thiếu trải nghiệm thực tế tại Việt Nam, nhiều chuyên gia sẽ khó hình dung đầy đủ những khó khăn, điểm nghẽn và nhu cầu thực tiễn của đất nước để có những giải pháp sát với yêu cầu phát triển.

Theo ông, Chính phủ cần có những cơ chế chính sách đặc thù, môi trường nghiên cứu, chính sách đãi ngộ, sở hữu trí tuệ… nhằm thu hút người tài trở về?

Theo tôi, người Việt Nam ở bất cứ đâu cũng đều mong muốn đóng góp cho quê hương theo những cách khác nhau.

Ngoài chính sách thu nhập và đãi ngộ, điều quan trọng hơn là tiếp tục hoàn thiện thể chế và xây dựng một hệ sinh thái đồng bộ cho nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ. Đây cũng là định hướng mà Đảng và Nhà nước đang rất quan tâm.

Việt Nam cần phát triển mạnh các mô hình liên kết giữa trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp; thúc đẩy chia sẻ nguồn lực, dữ liệu và tri thức. Tinh thần hợp tác trong nghiên cứu cũng là một biểu hiện của lòng yêu nước và phù hợp với tư tưởng đoàn kết mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao.

Bên cạnh đó, cần mở rộng các cơ chế thử nghiệm, cơ chế đặt hàng nghiên cứu từ Nhà nước và doanh nghiệp đối với những bài toán lớn của quốc gia. Khi kết quả nghiên cứu nhanh chóng được ứng dụng vào thực tiễn sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động và chất lượng cuộc sống của người dân.

Đặc biệt, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có ý nghĩa rất quan trọng. Đây không chỉ là sự ghi nhận công sức của nhà khoa học mà còn tạo động lực để họ tiếp tục sáng tạo, nhất là khi các sản phẩm nghiên cứu được thương mại hóa. Những sản phẩm “Make in Vietnam” được bảo hộ và ứng dụng rộng rãi cũng là cách khẳng định trí tuệ Việt Nam trên trường quốc tế.

Theo ông, người Việt Nam ở nước ngoài có thể đóng góp cho đất nước thông qua những hình thức nào?

Hiện nay có khoảng 6 triệu người Việt Nam sinh sống, học tập và làm việc tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ. Đây là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam.

Cộng đồng người Việt ở nước ngoài ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng. Nhiều thế hệ trẻ được đào tạo bài bản, đang làm việc tại các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và tập đoàn lớn trên thế giới. Đồng thời, việc gìn giữ bản sắc văn hóa và bồi đắp tình yêu quê hương cho thế hệ trẻ cũng là vấn đề cần được quan tâm.

Tiềm lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài rất lớn. Điều này không chỉ thể hiện qua lượng kiều hối tăng hằng năm mà còn ở đội ngũ trí thức, chuyên gia đang đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng trong các trung tâm nghiên cứu hàng đầu thế giới.

Có thể nói, đây là nguồn lực nội sinh rất quý giá. Điều quan trọng là chúng ta cần có những cơ chế phù hợp để phát huy tối đa sức mạnh của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong quá trình phát triển đất nước.

Hiện nay có rất nhiều diễn đàn và mạng lưới kết nối người Việt Nam ở nước ngoài luôn sẵn sàng đón nhận các sáng kiến vì sự phát triển của đất nước.

Người Việt Nam ở nước ngoài có thể tham gia thông qua các hội thảo, diễn đàn khoa học, các mạng lưới chuyên gia như Mạng lưới trí thức trẻ Việt Nam toàn cầu của Trung ương Đoàn hay Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài toàn thế giới do Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài tổ chức định kỳ.

Các cơ quan báo chí cũng là cầu nối quan trọng để trí thức kiều bào chia sẻ sáng kiến, hiến kế cho đất nước. Bên cạnh đó, một số địa phương như TP Hồ Chí Minh cũng đã xây dựng các kênh trao đổi thường xuyên với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Đây là những mô hình rất đáng khuyến khích.

Mỗi sáng kiến đều đáng được trân trọng bởi đằng sau đó là khát vọng đóng góp và tình yêu dành cho quê hương.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

XC/Báo Tin tức và Dân tộc