Dù đã hình thành nhiều cơ sở dữ liệu chuyên ngành trong lĩnh vực an sinh xã hội, song dữ liệu hiện vẫn phân tán ở nhiều bộ, ngành và lĩnh vực khác nhau, chưa hình thành được hệ thống dùng chung, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện chính sách. Trong bối cảnh đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, việc xây dựng hành lang pháp lý cho kết nối, chia sẻ và khai thác hiệu quả dữ liệu an sinh xã hội đang trở thành yêu cầu cấp thiết.
Ảnh minh họa: TTTXVN phát
Cần một nền tảng dữ liệu thống nhất về an sinh xã hội
Đề án xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội, ứng dụng công nghệ thông tin vào giải quyết chính sách an sinh xã hội đến năm 2020 và định hướng phát triển đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 708/QĐ-TTg. Đề án hướng đến mục tiêu triển khai ứng dụng công nghệ thông tin vào giải quyết chính sách an sinh xã hội cho người dân, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến trong lĩnh vực an sinh xã hội.
Thực hiện Quyết định số 708/QĐ-TTg, các bộ, ngành đã từng bước hình thành một số cơ sở dữ liệu chuyên ngành trong lĩnh vực an sinh xã hội như cơ sở dữ liệu về đối tượng trợ giúp xã hội, trẻ em, người có công, bảo hiểm thất nghiệp... Các cơ sở dữ liệu này đã hỗ trợ công tác quản lý, theo dõi, tổng hợp thông tin và giải quyết chính sách trong từng lĩnh vực.
Tuy nhiên, dữ liệu an sinh xã hội hiện vẫn tồn tại riêng lẻ theo từng ngành, từng lĩnh vực, chưa hình thành được cơ sở dữ liệu dùng chung. Tình trạng phân tán, thiếu kết nối, liên thông và chia sẻ dữ liệu còn phổ biến; tiêu chuẩn, cấu trúc dữ liệu chưa thống nhất; chất lượng dữ liệu chưa đáp ứng yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”.
Bên cạnh đó, hệ thống thể chế về dữ liệu trong lĩnh vực an sinh xã hội chưa hoàn thiện, thiếu các quy định mang tính tổng thể và thống nhất. Việc khai thác, sử dụng dữ liệu chưa phát huy hiệu quả phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành.
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Kế hoạch số 02-KH/BCĐTW của Ban Chỉ đạo Trung ương đã xác định dữ liệu là nguồn tài nguyên quan trọng, nền tảng cho phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về phát triển dữ liệu phục vụ tăng trưởng kinh tế - xã hội đã đặt ra yêu cầu hoàn thiện thể chế, bảo đảm hành lang pháp lý đồng bộ cho việc xây dựng, quản lý và khai thác các cơ sở dữ liệu.
Theo Bộ Nội vụ, Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội là một trong 12 cơ sở dữ liệu quốc gia trọng yếu, đóng vai trò cơ sở dữ liệu lõi, tham chiếu và tổng hợp trong lĩnh vực an sinh xã hội. Cơ sở dữ liệu này có chức năng tiếp nhận, đồng bộ dữ liệu từ các cơ sở dữ liệu thành phần và dữ liệu phát sinh từ thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý của nhiều bộ, ngành.
Nguồn dữ liệu được tích hợp từ các cơ sở dữ liệu về đối tượng trợ giúp xã hội, trẻ em, cơ sở trợ giúp xã hội, hộ nghèo và cận nghèo, người cai nghiện và sau cai nghiện ma túy, bảo hiểm thất nghiệp, người có công cùng các cơ sở dữ liệu liên quan khác. Bộ Nội vụ đã phối hợp với các bộ, ngành triển khai xây dựng, tích hợp và đồng bộ dữ liệu, từng bước hình thành Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội.
Song, để cơ sở dữ liệu này thực sự trở thành hệ thống dữ liệu dùng chung phục vụ giải quyết chính sách, cung cấp dịch vụ công trực tuyến và công tác chỉ đạo, điều hành, giám sát thực hiện chính sách xã hội, cần có quy định cụ thể về phạm vi dữ liệu, nguồn dữ liệu, trách nhiệm cập nhật, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu của các bộ, ngành; đồng thời bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Tạo cơ sở pháp lý để khai thác hiệu quả dữ liệu
Bộ Nội vụ cho biết đang xây dựng dự thảo Nghị định quy định về Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội nhằm tạo nền tảng pháp lý thống nhất cho việc xây dựng, quản lý, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu trên phạm vi toàn quốc; khắc phục tình trạng phân tán dữ liệu; nâng cao chất lượng dữ liệu theo nguyên tắc “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”.
Dự thảo Nghị định được xây dựng với ba mục tiêu chính. Thứ nhất, hoàn thiện cơ sở pháp lý về xây dựng, quản lý, kết nối, chia sẻ, khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội; cụ thể hóa các quy định của Luật Dữ liệu, Luật Chuyển đổi số, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân và các quy định có liên quan.
Thứ hai, khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong quản lý dữ liệu về an sinh xã hội; bảo đảm hình thành cơ sở dữ liệu tập trung, thống nhất trên cơ sở tích hợp, đồng bộ dữ liệu từ các cơ sở dữ liệu thành phần và kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành có liên quan.
Thứ ba, phát huy giá trị dữ liệu phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành, phân tích, dự báo, hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; bảo đảm việc chi trả chính sách chính xác, minh bạch, kịp thời, không trùng lặp, không bỏ sót đối tượng; đồng thời cắt giảm thủ tục hành chính, không yêu cầu người dân cung cấp lại thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu.
Theo dự thảo, Chính phủ là chủ sở hữu Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội, Bộ Nội vụ là cơ quan chủ quản. Nghị định quy định việc xây dựng, thu thập, cập nhật, duy trì, khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu trên môi trường số; quy định nguyên tắc quản lý, vận hành, kết nối, chia sẻ dữ liệu và trách nhiệm của các cơ quan liên quan.
Dự thảo cũng xác định các cơ sở dữ liệu thành phần hình thành Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội; quy định nguồn thu thập, cập nhật dữ liệu; yêu cầu chuẩn hóa dữ liệu; việc kết nối, chia sẻ dữ liệu với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và các hệ thống thông tin có liên quan nhằm bảo đảm dữ liệu được quản lý tập trung, thống nhất, chính xác và kịp thời.
Đối với việc khai thác dữ liệu, dự thảo quy định các cơ quan, tổ chức, cá nhân được khai thác theo thẩm quyền thông qua các hình thức kết nối, chia sẻ dữ liệu, Cổng Dịch vụ công quốc gia, ứng dụng định danh điện tử VNeID, Cổng thông tin điện tử về an sinh xã hội và các phương thức khác theo quy định của pháp luật.
Dự thảo đồng thời quy định các yêu cầu về hạ tầng kỹ thuật, lưu trữ dữ liệu, an toàn thông tin và an ninh mạng; quy định trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương trong việc xây dựng, quản lý, vận hành, cập nhật, kết nối và chia sẻ dữ liệu.
Theo Bộ Nội vụ, việc ban hành Nghị định sẽ tạo cơ sở pháp lý để rà soát, tái cấu trúc quy trình giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực an sinh xã hội theo hướng khai thác dữ liệu đã có, hạn chế yêu cầu người dân cung cấp lại thông tin, giấy tờ đã được cơ quan nhà nước quản lý. Trên cơ sở dữ liệu được chuẩn hóa, kết nối, chia sẻ và cập nhật thường xuyên, các bộ, ngành, địa phương có thể từng bước cắt giảm thủ tục hành chính, giảm thành phần hồ sơ, rút ngắn thời gian giải quyết, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến và hỗ trợ thực hiện chi trả chính sách an sinh xã hội trên môi trường số. Trách nhiệm quản lý dữ liệu được phân công theo chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, bảo đảm thống nhất trong quản lý, không chồng chéo trách nhiệm và phát huy tính chủ động của các cơ quan trong việc tạo lập, cập nhật, quản lý và khai thác dữ liệu.
Việc xây dựng và ban hành Nghị định cũng tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng, quản lý, kết nối, chia sẻ, khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội; phát huy giá trị dữ liệu trong công tác chỉ đạo, điều hành, hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ số và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.