Theo phóng viên TTXVN tại Jakarta, Chính phủ Indonesia đã xây dựng khung ứng phó liên ngành trước nguy cơ El Nino cường độ mạnh trong nửa cuối năm 2026, tập trung vào 4 nhóm lĩnh vực ưu tiên gồm nông nghiệp và lâm nghiệp; năng lượng và tài nguyên nước; y tế; thủy sản và thực phẩm.
Cảnh khô hạn trên cánh đồng ở Cibarusa, Bekasi, Indonesia. Ảnh tư liệu: AFP/TTXVN
Phát biểu tại Đối thoại quốc gia về tăng cường ứng phó trước tác động của El Nino mạnh tại Jakarta ngày 4/8, Thứ trưởng phụ trách Lương thực, Tài nguyên thiên nhiên và Môi trường thuộc Bộ Kế hoạch Phát triển Quốc gia Indonesia, ông Leonardo AA Teguh cho biết tài liệu chính sách mới đã xác định các khu vực có nguy cơ cao, đánh giá tác động và đề xuất các biện pháp ứng phó cụ thể.
Trước đó, Cơ quan Khí tượng, Khí hậu và Địa vật lý Indonesia (BMKG) dự báo El Nino mạnh có thể xuất hiện trong nửa cuối năm 2026, khiến lượng mưa tại một số khu vực giảm xuống dưới 20 mm/tháng. Chính phủ nước này ước tính nếu không có biện pháp can thiệp sớm, thiệt hại kinh tế do biến đổi khí hậu tại các lĩnh vực ưu tiên có thể vượt 2 triệu tỷ rupiah (108 tỷ USD).
Triển khai kế hoạch ứng phó trong lĩnh vực nông nghiệp và lâm nghiệp, Indonesia tăng cường phòng cháy, chữa cháy rừng và đất than bùn; triển khai công nghệ điều chỉnh thời tiết; cải thiện hệ thống thủy lợi; đưa vào sử dụng các giếng khoan; phân phối giống cây trồng chịu hạn và mở rộng bảo hiểm nông nghiệp. Các biện pháp này nhằm hạn chế tác động của hạn hán đối với sản xuất lúa gạo, dầu cọ và cà phê.
Đối với năng lượng và tài nguyên nước, các công trình trữ nước, bảo tồn lưu vực sông được đồng loạt bảo dưỡng và triển khai các biện pháp điều chỉnh thời tiết nhằm duy trì nguồn nước, giảm tác động đến sản xuất thủy điện. Bên cạnh đó, lượng mây giảm trong mùa khô được kỳ vọng tạo điều kiện thuận lợi để tăng sản lượng điện Mặt Trời.
Trong lĩnh vực y tế, các cơ quan chức năng Indonesia lập kế hoạch tăng cường giám sát các bệnh nhạy cảm với khí hậu như sốt xuất huyết và sốt rét, nâng cao năng lực sẵn sàng của hệ thống y tế, bảo đảm nguồn nước sạch và đẩy mạnh cảnh báo rủi ro tới cộng đồng.
Bên cạnh đó, các dữ liệu hải dương học sẽ được sử dụng để xây dựng kế hoạch sản xuất và áp dụng các công nghệ nuôi trồng thủy hải sản hiệu quả. Hiện tượng nước trồi có thể hỗ trợ khai thác một số loài cá nổi và sản xuất muối, song biến động nhiệt độ và chất lượng nước cũng có thể ảnh hưởng đến nghề cá nước ngọt và nuôi trồng rong biển.