Hạ tầng năng lượng thông minh đang trở thành nền tảng quan trọng để nâng cao hiệu quả vận hành hệ thống điện, thúc đẩy chuyển đổi số và hiện thực hóa các mục tiêu phát triển xanh của Việt Nam.
Năng lượng tái tạo góp phần tạo động lực tăng trưởng mạnh mẽ cho tỉnh Cà Mau. Ảnh: Chanh Đa/TTXVN
PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường cho rằng, thế giới đang chuyển từ cách tiếp cận tập trung mở rộng công suất phát điện sang xây dựng hệ thống năng lượng có khả năng điều phối linh hoạt giữa phát điện, truyền tải, lưu trữ và tiêu thụ.
“Việc chuyển đổi năng lượng đang bước sang giai đoạn mới khi trọng tâm không còn chỉ là phát triển nguồn điện sạch, mà là xây dựng hệ thống năng lượng thông minh, linh hoạt và có khả năng chống chịu cao. Đây được xem là điều kiện quan trọng để Việt Nam thúc đẩy tăng trưởng xanh và nâng cao năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế số”, PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ cho biết.
Để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược trên, tại Diễn đàn “Phát triển hạ tầng năng lượng thông minh” do Báo điện tử Tiếng nói Việt Nam (VOV) tổ chức mới đây, ông Nguyễn Phương Bắc, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho rằng, việc huy động nguồn lực tài chính là yếu tố then chốt. Bên cạnh ngân sách Nhà nước và vốn tự có của doanh nghiệp, nguồn vốn tín dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng, trực tiếp thúc đẩy tiến độ đầu tư và hoàn thành các dự án công trình ngành điện.
Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, chỉ riêng giai đoạn 2021 - 2030, tổng vốn đầu tư cho các dự án nguồn điện và lưới điện truyền tải của Việt Nam cần khoảng 134,7 tỷ USD, trong đó nguồn điện khoảng 119,8 tỷ USD, lưới điện khoảng 14,9 tỷ USD. Bước sang giai đoạn 2031 - 2050, con số này sẽ tăng lên lên từ mức 399,2 tỷ đến 523,1 tỷ USD.
Ông Nguyễn Phương Bắc, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (NHNN).
Bên cạnh việc bảo đảm đủ điện cho nền kinh tế, Việt Nam còn đang thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính, phát triển năng lượng tái tạo và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Theo ông Nguyễn Phương Bắc, điều này đòi hỏi nguồn vốn đầu tư rất lớn cho các dự án điện gió, điện mặt trời, điện khí LNG, hệ thống lưu trữ năng lượng và lưới điện thông minh. Trong đó, nguồn vốn tín dụng đóng vai trò quan trọng cho đầu tư phát triển hạ tầng điện, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng Quốc gia.
“Hiện, dư nợ tín dụng đối với ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí chiếm khoảng 3% tổng dư nợ nền kinh tế”, ông Nguyễn Phương Bắc cho biết. Bên cạnh đó, thông qua việc cung ứng vốn cho các dự án điện trọng điểm, hệ thống ngân hàng đã góp phần quan trọng vào việc mở rộng công suất nguồn điện, nâng cao năng lực truyền tải và tăng cường độ ổn định của hệ thống điện quốc gia, góp phần bảo đảm cung ứng điện liên tục, an toàn và ổn định cho nền kinh tế.
Theo đại diện Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, NHNN chỉ đạo các ngân hàng thương mại (NHTM), đặc biệt 4 NHTM Nhà nước bố trí đủ vốn để cho vay đối với: Dự án xây dựng công trình thủy điện Sơn La 17.500 tỷ đồng, chiếm khoảng 50% tổng mức đầu tư của dự án; Dự án thủy điện Lai Châu 14.500 tỷ đồng; Dự án Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch 1 là 27.100 tỷ đồng; Dự án đường dây 500kV Quảng Trạch - Phố Nối khoảng 15.000 tỷ đồng...
Đồng thời, NHNN còn hỗ trợ rất lớn về ngoại tệ để dự án nguồn điện và lưới điện nhập khẩu thiết bị nước ngoài; phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành tham mưu ban hành cơ chế đặc thù áp dụng riêng cho Dự án thủy điện Sơn La, Dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1.
Tuy nhiên, việc cấp tín dụng đối với ngành điện đang gặp một số khó khăn như các dự án nguồn điện và lưới điện truyền tải thường có tổng mức đầu tư đặc biệt lớn và thời gian hoàn vốn kéo dài, dẫn đến áp lực lớn cho các NHTM về tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn; nhiều dự án điện gặp khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng, thủ tục đầu tư, cơ chế giá điện hoặc các vấn đề pháp lý liên quan, làm gia tăng rủi ro tín dụng…
Nhằm khơi thông và phát huy tối đa vai trò của nguồn vốn tín dụng trong phát triển hạ tầng điện, theo NHNN, hệ thống giải pháp đồng bộ cần được triển khai trên cả 3 trụ cột: Chính sách, thị trường vốn và khả năng hấp thụ của doanh nghiệp, cụ thể: Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và minh bạch hóa cơ chế giá điện với trọng tâm là đẩy nhanh tiến độ triển khai Quy hoạch điện VIII điều chỉnh; đồng thời xây dựng cơ chế giá điện minh bạch, hài hòa lợi ích giữa các bên. Đây là điều kiện tiên quyết để kiến tạo môi trường đầu tư ổn định, giúp các tổ chức tín dụng an tâm giải ngân dài hạn.
Thứ hai, đa dạng hóa nguồn vốn và thúc đẩy tài chính xanh, đó là khuyến khích các NHTM tăng cường hợp vốn (đồng tài trợ) đối với các dự án lớn; đồng thời, cần giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng bằng cách phát triển đồng bộ thị trường trái phiếu xanh, trái phiếu doanh nghiệp và các quỹ đầu tư hạ tầng; trong đó ưu tiên dòng vốn tín dụng xanh cho năng lượng sạch, lưới điện thông minh.
Thứ ba, tăng cường kết nối liên ngành và nâng cao năng lực chủ đầu tư, theo đó thiết lập cơ chế chia sẻ thông tin liên ngành thông qua các cuộc họp của Ban Chỉ đạo Nhà nước các chương trình, công trình, dự án quan trọng Quốc gia, trọng điểm ngành năng lượng để kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc cho các công trình trọng điểm. Song song đó, các doanh nghiệp điện lực phải tự nâng cao năng lực tài chính nội tại thông qua việc tăng vốn chủ sở hữu, minh bạch hóa quản trị và kiểm soát tốt rủi ro dự án.
Nhiều chuyên gia cũng cho rằng, cùng với hoàn thiện thể chế và quy hoạch năng lượng, việc xây dựng cơ chế huy động vốn hiệu quả, phát triển tài chính xanh và mở rộng các kênh dẫn vốn dài hạn sẽ là yếu tố quyết định để Việt Nam đẩy nhanh quá trình đầu tư hạ tầng năng lượng thông minh.
Đây không chỉ là yêu cầu nhằm bảo đảm an ninh năng lượng Quốc gia mà còn là điều kiện quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong giai đoạn tới.