08:08 07/08/2026
Nhằm tạo bước đột phá trong quản lý, sản xuất, chế biến, tiêu thụ và phát triển thương hiệu chè Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên phấn đấu đến năm 2030 cơ bản hình thành hệ sinh thái số ngành chè đồng bộ, toàn diện, xây dựng ngành chè trở thành ngành hàng nông nghiệp chủ lực phát triển theo hướng hiện đại, thông minh, minh bạch, xanh, bền vững, theo chuỗi giá trị và tích hợp đa giá trị; nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng, thương hiệu, năng lực cạnh tranh, khả năng truy xuất, chống giả, mở rộng thị trường và hiệu quả quản lý nhà nước…
Chế biến chè tại HTX chè Hảo Đạt, tỉnh Thái Nguyên. Ảnh tư liệu: Hoàng Nguyên/TTXVN
Tỉnh xây dựng lộ trình cụ thể để đến năm 2030, 100% xã, phường trồng chè thiết lập đầu mối dữ liệu, tối thiểu 70% diện tích chè có bản đồ GIS và toàn bộ hồ sơ mã số vùng trồng được giám sát trên môi trường số; tối thiểu 80% sản phẩm sử dụng chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể và sản phẩm OCOP có hồ sơ số, truy xuất nguồn gốc, nhận diện số, hộ chiếu số sản phẩm. 100% doanh nghiệp, hợp tác xã có vùng nguyên liệu chè ứng dụng công nghệ số ở mức phù hợp trong canh tác, quản lý chuỗi và truy xuất nông sản từ sản xuất, thu hoạch, sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển đến tiêu thụ sản phẩm.
Trong giai đoạn mới, Thái Nguyên chỉ đạo các địa phương xây dựng tối thiểu 5 mô hình vùng chè thông minh, 10 mô hình cơ sở chế biến chè thông minh; tối thiểu 80% hợp tác xã, doanh nghiệp chè có sản phẩm OCOP áp dụng phần mềm quản trị sản xuất - kinh doanh phù hợp…
Để đạt được các mục tiêu đề ra, tỉnh Thái Nguyên chỉ đạo ngành nông nghiệp và môi trường, các địa phương trong tỉnh xây dựng nền tảng dữ liệu số ngành chè, bản đồ số vùng chè và quản lý số mã số vùng trồng, phát triển truy xuất nguồn gốc, nhận diện số, hộ chiếu số sản phẩm và chống giả, chuyển đổi số trong canh tác, quản lý vùng nguyên liệu và xây dựng mô hình vùng chè thông minh, chuyển đổi số trong chế biến, quản trị sản xuất - kinh doanh và kiểm soát chất lượng, phát triển thương mại điện tử, truyền thông số, dữ liệu thị trường và xúc tiến thương mại số…
Thu hái chè vụ đông tại tỉnh Thái Nguyên. Ảnh tư liệu: Hoàng Nguyên/TTXVN
Theo Sở Nông nghiệp và môi trường, cây chè là cây chủ lực quốc gia và cũng là cây chủ lực của tỉnh Thái Nguyên diện tích hiện nay đạt 22.200 ha, chiếm khoảng 17% diện tích chè toàn quốc, sản lượng đạt 272.000 tấn chè búp tươi/năm. Toàn tỉnh có trên 17.800 ha chè áp dụng sản xuất an toàn, 5.963 được chứng nhận VietGAP, 179 ha được chứng nhận hữu cơ. Đến nay, cơ bản các vùng sản xuất chè tập trung đã ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước; giá trị thu được trên 1 ha đất trồng chè bình quân đạt từ 400 triệu đồng đến 600 triệu đồng/ha, một số vùng chè đặc sản như Tân Cương, La Bằng đạt từ 800 triệu đồng đến 1,5 tỷ đồng/ha.
Ông Dương Sơn Hà, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và môi trường tỉnh Thái Nguyên cho biết, việc nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học - công nghệ cùng với chuyển đổi số trong phát triển ngành chè thời gian qua đã được triển khai tương đối đồng bộ, toàn diện, gắn với nhu cầu thực tiễn của sản xuất và doanh nghiệp, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm chè Thái Nguyên...
Để nâng cao hơn nữa chất lượng, giá trị và sức cạnh tranh của sản phẩm chè, thực hiện có hiệu quả chương tình chuyển đổi số ngành chè, trong thời gian tới, ngành nông nghiệp tỉnh tăng cường quản lý, giám sát vùng nguyên liệu; cấp, quản lý mã vùng trồng; giám sát sử dụng vật tư nông nghiệp, hoá chất từ khâu sản xuất ban đầu; tiếp tục hỗ trợ xây dựng, áp dụng các tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ… hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến HACCP, ISO… trong sản xuất, chế biến chè; xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu số thống nhất về ngành chè trên phạm vi toàn tỉnh, trong đó mỗi vùng nguyên liệu, mỗi hộ sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp đều được định danh và cập nhật dữ liệu thường xuyên. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để hình thành hệ thống truy xuất nguồn gốc đồng bộ, chính xác và có khả năng kết nối với các hệ thống dữ liệu quốc gia…
Vũ Hoàng Giang (TTXVN)
|