09:08 04/09/2026

Hợp tác song phương về nông nghiệp công nghệ cao hướng tới đồng sáng tạo

Trong bối cảnh nông nghiệp công nghệ cao đang được chú trọng, Nhật Bản được đánh giá là một trong những quốc gia tiên phong trong lĩnh vực này. Phóng viên TTXVN tại Nhật Bản đã phỏng vấn Giáo sư Trần Đăng Xuân, Viện nghiên cứu IDEC, Đại học Hiroshima về triển vọng hợp tác nông nghiệp công nghệ cao Việt Nam - Nhật Bản.

Chú thích ảnh
Ông Trần Phú Lộc, chủ cơ sở Hồng treo Phú Lộc, Đà Lạt (Lâm Đồng) bên mẻ hồng treo áp dụng theo công nghệ của Nhật Bản. Ảnh: Nguyễn Dũng/TTXVN

Nhật Bản có thể hỗ trợ Việt Nam như thế nào trong việc chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và giúp nông dân, doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận các giải pháp nông nghiệp hiện đại?

Nhật Bản có thể hỗ trợ Việt Nam theo hướng không chỉ “bán máy móc”, mà xây dựng một hệ sinh thái để công nghệ được tiếp nhận, vận hành và nhân rộng lâu dài. Cách tiếp cận này phù hợp với Kế hoạch hợp tác MIDORI giữa Nhật Bản và các nước ASEAN (tháng 10/2023), trong đó Nhật Bản xác định Việt Nam và các nước ASEAN là đối tác để phổ biến công nghệ nông nghiệp thông minh, nông nghiệp bền vững và thích ứng khí hậu.

Tôi thấy có 6 hướng cụ thể, gồm (1) Chuyển giao công nghệ thông qua các mô hình thí điểm tại Việt Nam về AI, IoT, cảm biến, thiết bị bay không người lái, robot nông nghiệp, tưới thông minh, giống mới, công nghệ giảm phân bón và phát thải; (2) xây dựng các mô hình thí điểm và và dự án thử nghiệm để điều chỉnh công nghệ Nhật Bản cho điều kiện khí hậu, ruộng lúa và quy mô nông hộ Việt Nam; (3) đào tạo cán bộ, kỹ sư, giảng viên và nông dân Việt Nam thông qua chuyên gia Nhật sang Việt Nam, đào tạo tại Nhật và chương trình “train-the-trainer, hay đào tạo giảng viên nguồn”.

Tuy nhiên chúng ta lưu ý là Việt Nam nên tăng cường học hỏi thêm, vì chuyên gia Nhật Bản cũng không thể truyền tải toàn bộ các kinh nghiệm và công nghệ đang có của họ; (4) tăng cường hợp tác giữa đại học và viện nghiên cứu cùng doanh nghiệp Nhật Bản và Việt Nam để R&D, thử nghiệm và thương mại hóa công nghệ; (5) hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ và hợp tác xã tiếp cận công nghệ thông qua mô hình thuê, mượn, chia sẻ các dịch vụ nông nghiệp thay vì phải đầu tư máy móc đắt tiền ngay từ đầu; (6) sử dụng các chương trình của Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản Nhật Bản (MAFF), Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) và hợp tác công tư để hỗ trợ tài chính, xây dựng năng lực và đưa công nghệ Nhật Bản vào thị trường Việt Nam.

Theo Giáo sư, những thách thức lớn nhất đối với hợp tác nông nghiệp công nghệ cao giữa hai nước hiện nay là gì, và cần có giải pháp nào để khắc phục?

Theo tôi, thách thức lớn nhất hiện nay không phải là Nhật Bản thiếu công nghệ hay Việt Nam thiếu nhu cầu, mà là làm thế nào để lựa chọn những công nghệ Nhật Bản thực sự phù hợp với điều kiện sản xuất của Việt Nam và có thể phổ cập với chi phí hợp lý. Điều này đòi hỏi phải nghiên cứu, thử nghiệm và chọn lọc công nghệ dựa trên hiệu quả kinh tế thực tế, đặc biệt là giá thành, khả năng vận hành, bảo trì và khả năng áp dụng ở quy mô nông hộ và doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Trong một số trường hợp, máy móc nông nghiệp Nhật Bản có giá cao hơn đáng kể so với các sản phẩm cạnh tranh từ các nước khác, trong khi lợi ích kinh tế mang lại chưa chắc tương ứng với chênh lệch về giá. Nhật Bản và Việt Nam có nhiều điểm tương đồng, đặc biệt là sản xuất lúa nước và tỷ lệ nông hộ nhỏ, nhưng công nghệ vẫn cần được điều chỉnh theo điều kiện khí hậu, đồng ruộng, quy mô sản xuất và khả năng đầu tư tại từng địa phương.

Một vấn đề rất quan trọng khác là tài chính. Các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam không chỉ quan tâm đến công nghệ Nhật Bản mà còn quan tâm liệu khi nhập máy móc và công nghệ từ Nhật có thể đồng thời tiếp cận các nguồn vốn vay dài hạn hoặc ưu đãi hay không. Một số quốc gia khi xúc tiến công nghệ nông nghiệp tại Việt Nam có thể kết hợp giới thiệu thiết bị với các chương trình tín dụng hoặc hỗ trợ tài chính, qua đó làm tăng khả năng tiếp nhận và phổ cập công nghệ. Nhật Bản cũng đã bắt đầu triển khai những cơ chế tài chính theo hướng này.

Chẳng hạn, năm 2025, Tổ chức Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) ký khoản vay 90 triệu USD cho HDBank nhằm mở rộng nguồn vốn cho vay đối với lĩnh vực nông nghiệp tại Việt Nam; khoản vay này còn có sự đồng tài trợ của SMBC và FinDev Canada. Đến năm 2026, JICA tiếp tục ký khoản vay 50 triệu USD với Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) nhằm mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng của các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa (MSME), trong đó 30 triệu USD được dành cho các MSME tại khu vực nông thôn.

Những chương trình này cho thấy phía Nhật Bản đã nhận thức rõ rằng khả năng tiếp cận nguồn vốn hay “tiếp cận tài chính”, là một trong những nút thắt quan trọng đối với doanh nghiệp và khu vực nông thôn Việt Nam, và đang từng bước giải quyết vấn đề này thông qua các định chế tài chính Việt Nam. Tuy nhiên, theo tôi, trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao cần tiến thêm một bước nữa, xây dựng một cơ chế rõ ràng và trực tiếp hơn, kết nối “công nghệ Nhật Bản - doanh nghiệp cung cấp công nghệ - JICA/ngân hàng Nhật Bản - ngân hàng Việt Nam - doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân Việt Nam”. Khi chuyển giao công nghệ được thiết kế song hành với các khoản vay dài hạn, tín dụng ưu đãi, hoặc các hình thức hỗ trợ tài chính phù hợp, khả năng tiếp nhận và phổ cập công nghệ nông nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam sẽ cao hơn đáng kể.

Một vấn đề khác là phía Việt Nam còn thiếu nhiều thông tin cập nhật về thị trường, chính sách nông nghiệp và công nghệ cao của Nhật Bản. Điều này cho thấy việc cung cấp thông tin chính xác về chính sách, nhu cầu thị trường và các kênh tiếp cận Nhật Bản cho doanh nghiệp Việt Nam cũng quan trọng không kém việc chuyển giao công nghệ.

Giáo sư đánh giá như thế nào về tiềm năng hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, đặc biệt sau những thỏa thuận đạt được trong chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Takaichi Sanae?

Theo tôi, tiềm năng hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao là rất lớn và đang bước vào một giai đoạn thuận lợi mới. Đặc biệt, chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae từ ngày 1-3/5/2026 đã tạo thêm động lực chính trị quan trọng cho quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện giữa hai nước.

Trong chuyến thăm, hai bên xác định khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, AI, chuyển đổi xanh, an ninh năng lượng và lương thực, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và tăng cường khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng là những lĩnh vực hợp tác quan trọng. Nông nghiệp thông minh và nông nghiệp công nghệ cao cũng được phía Việt Nam xác định là một trong những nội dung hai nước quan tâm thúc đẩy.

Tôi cho rằng Việt Nam và Nhật Bản có tính bổ sung rất cao trong lĩnh vực này. Nhật Bản có thế mạnh về robot, AI, IoT, cảm biến, máy nông nghiệp tự động, công nghệ sinh học, giống cây trồng, công nghệ sau thu hoạch, quản lý chất lượng và nông nghiệp ít phát thải. Trong khi đó, Việt Nam có diện tích sản xuất nông nghiệp lớn, điều kiện sinh thái đa dạng, nguồn nhân lực trẻ, thị trường đang phát triển và đặc biệt có khả năng trở thành địa điểm thử nghiệm, ứng dụng và mở rộng các công nghệ phù hợp sang thị trường ASEAN. Việc Thủ tướng Takaichi Sanae nhấn mạnh vai trò của Việt Nam như một trung tâm quan trọng trong chuỗi cung ứng và chủ trương tăng cường hợp tác công - tư Nhật-Việt càng mở ra cơ hội để nông nghiệp được đặt trong chiến lược rộng hơn về khoa học công nghệ và an ninh kinh tế.

Một hướng đặc biệt có triển vọng là kết hợp nông nghiệp công nghệ cao với chuyển đổi xanh và an ninh lương thực. Hai nước có thể cùng phát triển AI và nông nghiệp chính xác, giống cây chịu nhiệt và thích ứng biến đổi khí hậu, công nghệ giảm phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, quản lý nước thông minh, giảm phát thải khí CH4 và dinitrogen monoxide (N2O), sinh khối, và các hệ thống sản xuất tuần hoàn. Điều này phù hợp với định hướng mà hai Thủ tướng đã thống nhất trong tháng 5/2026 về tăng cường khả năng tự chủ và sức chống chịu của hai nền kinh tế thông qua khoa học công nghệ và các lĩnh vực an ninh kinh tế mới.

Nhìn xa hơn, Việt Nam không nên chỉ là thị trường tiếp nhận công nghệ của Nhật Bản. Với quy mô nông nghiệp, nguồn nhân lực và vị trí trung tâm ASEAN, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành đối tác cùng Nhật Bản nghiên cứu, thử nghiệm, cải tiến và sản xuất những công nghệ nông nghiệp có chi phí phù hợp hơn cho các nước châu Á. Vì vậy, tôi đánh giá chuyến thăm của Thủ tướng Takaichi Sanae là cơ hội để hai nước nâng hợp tác nông nghiệp từ những dự án riêng lẻ lên một chiến lược dài hạn, trong đó công nghệ, nguồn nhân lực, tài chính, doanh nghiệp và thị trường được kết nối với nhau. Nếu làm được điều này, nông nghiệp công nghệ cao có thể trở thành một trong những lĩnh vực hợp tác thực chất và có lợi ích lâu dài cho cả Việt Nam và Nhật Bản.

Theo Giáo sư, Việt Nam và Nhật Bản nên ưu tiên hợp tác trong những lĩnh vực nào, chẳng hạn như nông nghiệp thông minh, tự động hóa, công nghệ sinh học hay quản lý chuỗi cung ứng?

Nếu phải lựa chọn ba lĩnh vực ưu tiên nhất, theo tôi đó là: nông nghiệp thông minh và tự động hóa; công nghệ sinh học và thích ứng với biến đổi khí hậu; và nông nghiệp xanh, phát thải carbon thấp. Ba lĩnh vực này có thể được hỗ trợ bởi một nền tảng chung gồm trí tuệ nhân tạo và dữ liệu số, đào tạo nguồn nhân lực, hỗ trợ tài chính và quản lý chuỗi cung ứng. Về nông nghiệp thông minh và tự động hóa, đây nên là lĩnh vực ưu tiên hàng đầu, bao gồm AI, IoT, cảm biến, thiết bị bay không người lái, robot nông nghiệp, máy tự hành, hệ thống tưới và quản lý nước tự động, công nghệ viễn thám và quản lý sản xuất dựa trên dữ liệu. Việt Nam có thể tiếp nhận những công nghệ đã chứng minh hiệu quả tại Nhật Bản nhưng cần lựa chọn và điều chỉnh để phù hợp với quy mô nông hộ, điều kiện đồng ruộng và khả năng đầu tư.

Thực tế, hợp tác về nông nghiệp thông minh giữa Nhật Bản và Việt Nam đã được triển khai từng bước trong khuôn khổ Kế hoạch Hợp tác MIDORI ASEAN- Nhật Bản, được thông qua ngày 4/10/2023. Trong năm 2024, MAFF triển khai Dự án thí điểm nông nghiệp thông minh tại Việt Nam, trong đó chuyên gia Nhật Bản sang Việt Nam hướng dẫn và trình diễn công nghệ tại thực địa, đồng thời các cán bộ và bên liên quan của Việt Nam được mời sang Nhật Bản khảo sát các mô hình nông nghiệp thông minh.

Chú thích ảnh
Công ty TNHH Xuất nhập khẩu KINOKO Long Khánh (Đồng Nai) sử dụng công nghệ Nhật Bản để sản xuất nấm cho năng suất cao. Ảnh: Lê Xuân/TTXVN

Sang năm 2025, Nhật Bản tiếp tục đẩy mạnh phổ biến công nghệ nông nghiệp thông minh và công nghệ xanh sang ASEAN; tháng 5/2025, MAFF công bố chương trình MIDORI∞INFINITY (Chương trình thúc đẩy công nghệ nông nghiệp giảm phát thải khí nhà kính của Nhật Bản ra thị trường quốc tế), nhằm hỗ trợ đưa các công nghệ giảm phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp của Nhật Bản ra thị trường quốc tế, thu hút đầu tư và phát triển các mô hình kinh doanh liên quan đến khí hậu.

Đến năm 2026, định hướng này tiếp tục được nâng lên khi MAFF thông qua MIDORI BOOST (Chương trình tăng tốc chuyển đổi xanh trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản của Nhật Bản) ngày 25/6/2026, tập trung thúc đẩy đầu tư chuyển đổi xanh, công nghệ thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo đảm an ninh lương thực. Tháng 7/2026, MAFF tiếp tục công bố Chiến lược Đổi mới nghiên cứu nông, lâm, ngư nghiệp 2026, trong đó nhấn mạnh phát triển công nghệ nông nghiệp thông minh có chi phí thấp hơn, thiết bị nhỏ gọn hơn và phát triển giống mới chịu nhiệt, năng suất cao.

Riêng về nông nghiệp xanh và giảm phát thải carbon, tôi cho rằng đây sẽ trở thành một lĩnh vực hợp tác rất lớn trong 10-20 năm tới. Hai nước có thể hợp tác về giảm phát thải CH4 trong ruộng lúa và N2O từ phân bón, quản lý nước, sử dụng sinh khối, than sinh học, năng lượng tái tạo, kinh tế tuần hoàn và xây dựng hệ thống đo lường - báo cáo - thẩm định phát thải. Đây cũng là hướng phù hợp với Chương trình hợp tác MIDORI giữa Nhật Bản và ASEAN, trong đó giảm phát thải khí nhà kính, khả năng chống chịu khí hậu và phổ cập công nghệ nông nghiệp thông minh là những nội dung trọng tâm.

Hợp tác nông nghiệp công nghệ cao Việt Nam và Nhật Bản được dự báo sẽ chuyển từ “chuyển giao công nghệ” sang “cùng nghiên cứu, cùng ứng dụng và cùng thương mại hóa”, kết hợp công nghệ Nhật Bản với điều kiện sản xuất, nguồn nhân lực và thị trường Việt Nam, qua đó không chỉ phục vụ hai nước mà còn hướng tới mở rộng ra ASEAN và các thị trường khác trên thế giới.

Xin cám ơn Giáo sư!

Nguyễn Tuyến (P/v TTXVN tại Nhật Bản)