Dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) đang được xây dựng theo hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh từ quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo sang quản lý tổng hợp tài nguyên, không gian biển, bảo vệ môi trường biển và hải đảo.
Việc sửa đổi nhằm bao quát đầy đủ các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên và không gian biển, sử dụng khu vực biển đa mục đích, quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể sử dụng khu vực biển, thúc đẩy phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái và phát triển bền vững, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
Vùng biển đảo phía Nam đảo Phú Quốc (Kiên Giang). Ảnh: Dương Giang/TTXVN
Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam Nguyễn Quốc Toản cho biết, dự thảo luật được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định còn phù hợp của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015, đồng thời sửa đổi, bổ sung nhiều quy định để đáp ứng yêu cầu quản lý tổng hợp tài nguyên, không gian biển, bảo vệ môi trường biển và hải đảo; phát triển các hoạt động kinh tế biển; bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển; phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.
Đáng chú ý, dự thảo luật được thiết kế bám sát và cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương của Nghị quyết số 20-NQ/TW của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
Theo ông Nguyễn Quốc Toản, dự thảo luật gồm 8 chương, 85 điều; trong đó có một chương hoàn toàn mới là Chương III về quản lý, sử dụng không gian biển với 32 điều. Đây là nội dung trọng tâm của lần sửa đổi, quy định toàn diện các nguyên tắc quản lý và sử dụng không gian biển; quy hoạch không gian biển quốc gia; giải quyết xung đột, chồng lấn trong sử dụng không gian biển; phân định trách nhiệm quản lý hành chính trên biển; xây dựng, quản lý đảo nhân tạo và công trình trên biển; quyền tiếp cận biển của người dân.
Chương này cũng bổ sung hệ thống quy định về sử dụng khu vực biển như các hình thức xác lập quyền sử dụng khu vực biển; giao, cho thuê, đăng ký sử dụng khu vực biển; đấu giá quyền sử dụng khu vực biển; giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển và hồ sơ hải chính; sử dụng chung, sử dụng đa mục đích khu vực biển; chuyển nhượng, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng khu vực biển; chuyển mục đích sử dụng và thu hồi quyền sử dụng khu vực biển.
Bên cạnh đó, dự thảo quy định đầy đủ cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển các hoạt động kinh tế biển và hải đảo, gồm nguyên tắc và tiêu chí áp dụng ưu đãi; đối tượng được hưởng ưu đãi; chính sách đối với nhà đầu tư chiến lược; khuyến khích đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ biển; cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với công nghệ, mô hình kinh doanh mới; phát triển tài chính biển xanh; hình thành quỹ không gian biển; tăng cường phối hợp liên ngành trong phát triển kinh tế biển; hỗ trợ cộng đồng ven biển, hải đảo tham gia các hoạt động kinh tế biển.
So với Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015, dự thảo quy định rõ hơn định hướng quản lý, khai thác và sử dụng hợp lý, hiệu quả, bền vững tài nguyên và không gian biển; ưu tiên điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát huy lợi thế của từng vùng biển gắn với quy hoạch không gian biển, phát triển bền vững kinh tế biển, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia; đồng thời thực hiện hiệu quả việc bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học tại khu vực ngoài quyền tài phán quốc gia.
Vùng biển của Cà Mau có vị trí địa - chính trị đặc biệt quan trọng, khi là trung tâm vùng biển các nước Đông Nam Á và các tuyến hàng hải quốc tế. Ảnh: Huỳnh Anh/TTXVN
Dự thảo cũng bổ sung các quy định về nghiên cứu khoa học, phát triển và chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong quản lý, khai thác tài nguyên và không gian biển. Đồng thời, thiết lập cơ chế thực hiện tập trung, thống nhất đối với hoạt động điều tra cơ bản, xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu, quan trắc, giám sát, khảo sát và thăm dò tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.
Một điểm mới quan trọng khác là nhóm quy định về quản lý và sử dụng không gian biển nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc phân bổ không gian biển hợp lý, hạn chế xung đột giữa các ngành, địa phương và các chủ thể khai thác, sử dụng biển, đồng thời bảo đảm quyền tiếp cận biển hợp pháp của cộng đồng dân cư.
Dự thảo cũng bổ sung quy định về giao, cho thuê, đăng ký sử dụng khu vực biển và xác lập quyền sử dụng khu vực biển; quy định rõ quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sử dụng khu vực biển, tạo cơ sở pháp lý minh bạch cho hoạt động đầu tư, khai thác và sử dụng tài nguyên biển.
Đối với công tác bảo vệ môi trường, dự thảo bổ sung các quy định cụ thể hơn về bảo vệ tài nguyên, môi trường vùng bờ nhằm phòng ngừa suy thoái tài nguyên, ô nhiễm môi trường, xói lở bờ biển và tác động tiêu cực đến hệ sinh thái; đồng thời tạo hành lang pháp lý để quản lý hoạt động đầu tư, xây dựng và khai thác tại các khu vực ven biển nhạy cảm. Dự thảo cũng bổ sung quy định về quản lý rác thải biển, rác thải nhựa biển nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn về giảm thiểu rác thải nhựa đại dương…
Theo ông Nguyễn Quốc Toản, một trong những mục tiêu lớn của lần sửa đổi luật là tạo cơ chế đột phá để thu hút đầu tư vào kinh tế biển, củng cố niềm tin lâu dài của doanh nghiệp và nhà đầu tư.
Theo đó, dự thảo tập trung vào ba nhóm giải pháp. Thứ nhất là đơn giản hóa thủ tục hành chính theo cơ chế "một cửa, một đầu mối", góp phần giảm thời gian và chi phí thực hiện thủ tục cho doanh nghiệp.
Thứ hai là xây dựng cơ chế ưu đãi về thuế và phí nhằm tạo động lực cho mọi thành phần kinh tế, từ nhà đầu tư chiến lược, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đến các doanh nghiệp và hộ kinh doanh trong nước tham gia phát triển kinh tế biển.
Thứ ba là thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Dữ liệu về biển sẽ được tích hợp từ nhiều nguồn, hình thành hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu đồng bộ. Trên cơ sở các quy định của Luật Dữ liệu về chia sẻ và khai thác dữ liệu, hệ thống không chỉ phục vụ cơ quan quản lý nhà nước mà còn tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận thông tin về tài nguyên, môi trường và điều kiện tự nhiên của từng vùng biển khi nghiên cứu, triển khai dự án đầu tư.
Dự thảo luật cũng đẩy mạnh ứng dụng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, hồ sơ hải chính, quan trắc và giám sát tổng hợp, góp phần giảm giấy tờ, chuẩn hóa dữ liệu, rút ngắn thời gian xử lý thủ tục hành chính, nâng cao tính công khai, minh bạch và khả năng kết nối, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan quản lý nhà nước.