06:18 05/06/2026

Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững

Chiều 5/6, Hội thảo Quốc gia “Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững” do Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương và UBND tỉnh Nghệ An tổ chức diễn ra tại Nghệ An.

Đây là một trong những hoạt động trọng tâm hưởng ứng Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam, Ngày Đại dương thế giới (8/6) và Tháng hành động vì môi trường năm 2026.

Phát biểu khai mạc, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho biết sau 8 năm thực hiện Nghị quyết 36 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam, nhiều cơ chế, chính sách đã được ban hành, góp phần thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế biển. Tuy nhiên, kết quả hiện nay vẫn chưa tương xứng với lợi thế mà Việt Nam đang sở hữu, với hơn 3.260 km bờ biển, diện tích 1 triệu km2 cùng hệ thống hơn 4.000 hòn đảo, song đóng góp của kinh tế biển cho nền kinh tế còn hạn chế.

Chú thích ảnh
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp phát biểu tại hội thảo.

“Còn nhiều điểm nghẽn, đặc biệt là sự chồng chéo trong công tác quản lý Nhà nước”, Thứ trưởng nói. Ông dẫn hàng loạt ví dụ về sự giao thoa giữa Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo với Luật Điện lực, Luật Hàng hải cùng các quy định liên quan giữa nhiều bộ, ngành như Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công Thương.

Theo Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp, những bất cập này khiến quá trình triển khai các dự án kinh tế biển gặp khó khăn, phát sinh thủ tục và tạo thêm gánh nặng cho doanh nghiệp. Lãnh đạo Bộ thừa nhận, sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo là yêu cầu cấp thiết nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, đồng thời tạo hành lang pháp lý cho các lĩnh vực kinh tế biển mới như điện gió ngoài khơi, nuôi trồng thủy sản biển, khai thác tài nguyên biển sâu và phát triển du lịch biển.

Trong quá trình khảo sát và hợp tác quốc tế, Việt Nam ghi nhận nhiều tiềm năng phát triển kinh tế biển, đặc biệt ở lĩnh vực khai thác khoáng sản biển sâu. Qua làm việc với một số đối tác, không ít khu vực được đánh giá có tiềm năng lớn về khoáng sản chiến lược, với giá trị kinh tế cao. Ông cũng cho rằng tiềm năng du lịch biển, đảo của Việt Nam hiện chưa được khai thác hiệu quả.

“Chúng ta có nhiều nơi rất đẹp, không thua kém các điểm nghỉ dưỡng nổi tiếng quốc tế, nhưng cơ chế phát triển và thu hút đầu tư vẫn còn hạn chế”, Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp chia sẻ.

Tại hội thảo, Bộ Nông nghiệp và Môi trường giới thiệu một số nội dung lớn trong dự thảo sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, đồng thời lấy ý kiến từ các chuyên gia, nhà khoa học, hiệp hội và doanh nghiệp để hoàn thiện chính sách.

TS. Vũ Mạnh Hùng, Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành (Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương) đề xuất 9 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững kinh tế biển Việt Nam trong bối cảnh mới.

Chú thích ảnh
Quang cảnh hội thảo.

Theo đó, TS. Vũ Mạnh Hùng đề xuất cần cần đổi mới tư duy và nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản trị biển; hoàn thiện thể chế, pháp luật theo hướng đồng bộ, minh bạch và có tính đột phá; huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phát triển mạnh doanh nghiệp biển; đột phá về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực; phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, giá trị gia tăng cao. Cùng với đó, phát triển đồng bộ hạ tầng và không gian kinh tế biển; kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế và tăng cường kiểm tra, giám sát và đánh giá thực thi.

Liên quan đến vấn đề sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, PGS.TS Nguyễn Chu Hồi - Phó Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam, cho rằng vấn đề cốt lõi hiện nay là xử lý hiệu quả các xung đột giữa quản lý và phát triển không gian biển.

Thời gian qua, công tác chuẩn bị và nhận thức về kinh tế biển bền vững đã có nhiều chuyển biến tích cực, từng bước hình thành tư duy quản lý, quản trị biển hiện đại, có tính hệ thống và định hướng rõ những nội dung cần tiếp tục điều chỉnh.

Theo PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, biển là không gian ba chiều, được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải chuyển từ mô hình quản lý đơn ngành sang quản lý tổng hợp, liên ngành nhằm giảm hài hoà lợi ích giữa các hoạt động kinh tế trên cùng một vùng biển. Bên cạnh đó, công cụ quản lý cần dựa trên hệ sinh thái biển. Chẳng hạn, thay vì chỉ quản lý rùa biển, cần quản lý nơi cư trú, môi trường sống của chúng; hoặc quản lý hành vi khai thác và các yếu tố tác động đến hệ sinh thái.

Một vấn đề khác được PGS.TS Chu Hồi đề cập là việc quy hoạch không gian biển. Theo Luật Quy hoạch năm 2017, việc quy hoạch không gian biển chủ yếu được thực hiện ở cấp quốc gia, quy mô lớn, dẫn đến tính ứng dụng ở cấp địa phương còn hạn chế. Vì vậy, ông đề xuất Luật Tài nguyên, Môi trường biển và Hải đảo sửa đổi cần làm rõ các công cụ quản lý dành cho địa phương, trong đó có thể nghiên cứu mô hình phân vùng chức năng không gian biển cấp tỉnh, dựa trên nhu cầu phát triển thực tiễn.

“Dù Luật Tài nguyên, Môi trường biển và Hải đảo 2015 đã đưa ra ba phương pháp quy hoạch cơ bản, song vẫn còn chồng chéo và xung đột giữa các công cụ. Do đó cần xem xét và nghiên cứu theo hướng áp dụng phương pháp quy hoạch không gian biển hiện đại, bắt đầu từ vùng bờ và mở rộng ra toàn bộ không gian biển”, ông cho biết.

Thu Trang/Báo Tin tức và Dân tộc