04:14 30/04/2026

Hoàn thiện khung pháp lý giám định tư pháp, mở rộng chi trả bảo hiểm tiền gửi

Từ ngày 1/5/2026, hai luật chính thức có hiệu lực là: Luật Giám định tư pháp 2025 và Luật Bảo hiểm tiền gửi 2025.

Siết chặt việc giám định tư pháp

Chú thích ảnh
Công tác giám định tư pháp. Ảnh minh họa: TTXVN

Luật Giám định tư pháp 2025 gồm 6 chương, 45 điều; quy định về người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp; trình tự, thủ tục giám định tư pháp; chi phí giám định tư pháp; chế độ, chính sách trong hoạt động giám định tư pháp; quản lý nhà nước về giám định tư pháp; trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động giám định tư pháp.

Đối tượng áp dụng gồm: Người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp, Hội đồng giám định tư pháp; người trưng cầu giám định tư pháp, người yêu cầu giám định tư pháp; cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân khác liên quan đến hoạt động giám định tư pháp.

Nguyên tắc thực hiện giám định tư pháp là tuân thủ pháp luật, tuân theo trình tự, thủ tục giám định, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ, quy trình giám định, quy chuẩn chuyên môn trong hoạt động giám định; trung thực, chính xác, khách quan, vô tư, kịp thời; độc lập trong quá trình thực hiện giám định, đưa ra kết luận giám định; chỉ kết luận về chuyên môn những vấn đề trong phạm vi được trưng cầu, yêu cầu giám định; chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận giám định.

Nhà nước đầu tư, phát triển hệ thống tổ chức giám định tư pháp công lập trong các lĩnh vực có nhu cầu giám định lớn, thường xuyên để đáp ứng yêu cầu của hoạt động tố tụng; có chính sách ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi gắn với kiểm soát chặt chẽ về chất lượng giám định đối với tổ chức giám định tư pháp ngoài công lập, tổ chức giám định tư pháp theo vụ việc hoặc đơn vị, tổ chức, cá nhân khác khi tham gia hoạt động giám định tư pháp. Nhà nước có chính sách ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ đối với người giám định tư pháp; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số; xây dựng cơ sở dữ liệu về giám định tư pháp.

Đáng chú ý, các hành vi bị nghiêm cấm gồm: Từ chối tiếp nhận, thực hiện giám định tư pháp mà không có lý do chính đáng; cố ý kéo dài thời gian thực hiện giám định tư pháp, thời gian ban hành kết luận giám định tư pháp; từ chối kết luận giám định tư pháp mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan; tiết lộ thông tin trong quá trình thực hiện giám định tư pháp gây ảnh hưởng đến hoạt động tố tụng. Bên cạnh đó còn có các hành vi lợi dụng danh nghĩa người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp để trục lợi; nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích khác từ đơn vị, tổ chức, cá nhân để làm sai lệch việc trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp hoặc để làm sai lệch kết quả, kết luận giám định tư pháp; cố ý đưa ra kết luận giám định tư pháp sai sự thật; lợi dụng việc trưng cầu, yêu cầu giám định tư pháp để gây khó khăn, cản trở hoạt động tố tụng; lạm dụng việc trưng cầu giám định tư pháp trong hoạt động tố tụng hình sự để thay thế công tác điều tra, thực hiện nghĩa vụ chứng minh của cơ quan tiến hành tố tụng; can thiệp, cản trở việc thực hiện giám định của người giám định tư pháp; xúi giục, đe dọa, ép buộc người giám định tư pháp đưa ra kết luận giám định tư pháp sai sự thật.

Giám định viên tư pháp được miễn nhiệm theo nguyện vọng cá nhân. Trường hợp giám định viên tư pháp đang làm việc tại cơ quan, đơn vị, tổ chức thì phải được sự chấp thuận của cơ quan, đơn vị, tổ chức đó.

Về văn bản, dữ liệu điện tử ghi nhận quá trình thực hiện giám định tư pháp, Luật quy định: Người giám định tư pháp, tổ chức giám định tư pháp phải ghi nhận kịp thời, đầy đủ, trung thực bằng văn bản hoặc dữ liệu điện tử toàn bộ quá trình thực hiện vụ việc giám định. Văn bản, dữ liệu điện tử ghi nhận quá trình thực hiện giám định tư pháp phải nêu rõ tình trạng của đối tượng giám định, thông tin, tài liệu, mẫu vật có liên quan, thời gian, địa điểm, nội dung công việc, tiến độ, phương pháp thực hiện giám định, kết quả thực hiện, có chữ ký của người thực hiện giám định tư pháp và được lưu trong hồ sơ giám định...

Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền

Chú thích ảnh
Khách hàng giao dịch tiền gửi tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng. Ảnh minh họa: Trần Việt/TTXVN

Cũng có hiệu lực từ ngày 1/5 tới, Luật Bảo hiểm tiền gửi 2025 gồm 8 chương, 40 điều; quy định về hoạt động bảo hiểm tiền gửi; quyền và nghĩa vụ của người được bảo hiểm tiền gửi, tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, tổ chức bảo hiểm tiền gửi và quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi.

Bảo hiểm tiền gửi nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền; góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng.

Về nguyên tắc bảo hiểm tiền gửi, Luật quy định, bảo hiểm tiền gửi là loại hình bảo hiểm bắt buộc theo quy định của Luật này. Hoạt động bảo hiểm tiền gửi phải công khai, minh bạch, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người được bảo hiểm tiền gửi, tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, tổ chức bảo hiểm tiền gửi.

Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được nhận tiền gửi của cá nhân phải tham gia bảo hiểm tiền gửi; ngân hàng chính sách không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi. Nhà nước có chính sách: Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền; quản lý, sử dụng nhằm bảo toàn vốn khi thực hiện hoạt động đầu tư và gia tăng nguồn vốn hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi.

Các hành vi bị nghiêm cấm gồm: Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi không nộp phí bảo hiểm tiền gửi; tổ chức bảo hiểm tiền gửi không trả hoặc trả không đầy đủ tiền bảo hiểm; gian lận, giả mạo hồ sơ, tài liệu, dữ liệu, giấy tờ về bảo hiểm tiền gửi; cản trở, gây khó khăn làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức bảo hiểm tiền gửi, tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, người được bảo hiểm tiền gửi và cơ quan, tổ chức có liên quan đến bảo hiểm tiền gửi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi.

Liên quan đến quyền và nghĩa vụ của tổ chức bảo hiểm tiền gửi, Luật quy định, việc tham gia đánh giá tính khả thi phương án phục hồi, phương án sáp nhập, hợp nhất, chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp, tham gia xây dựng phương án phá sản của tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt theo quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng; cho vay đặc biệt tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; mua trái phiếu dài hạn của tổ chức tín dụng nhận chuyển giao bắt buộc theo quyết định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; cử người đủ tiêu chuẩn, điều kiện để giữ chức danh Chủ tịch, thành viên khác của Hội đồng quản trị; Trưởng ban, thành viên khác của Ban Kiểm soát; Giám đốc, Phó giám đốc và chức danh quản lý, điều hành khác của quỹ tín dụng nhân dân được kiểm soát đặc biệt theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam...

Về vay đặc biệt từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tổ chức bảo hiểm tiền gửi được vay đặc biệt với lãi suất 0%, không có tài sản bảo đảm từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong trường hợp quy định tại Điều 21 của Luật này và khi số tiền trong quỹ dự phòng nghiệp vụ không đủ để trả tiền bảo hiểm. Số tiền trong quỹ dự phòng nghiệp vụ không đủ để trả tiền bảo hiểm được xác định khi tổ chức bảo hiểm tiền gửi đã sử dụng hết số tiền trong quỹ dự phòng nghiệp vụ mà vẫn không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm. Việc bán giấy tờ có giá chưa đến hạn, rút các khoản tiền gửi chưa đến hạn phải bảo đảm nguyên tắc bảo toàn vốn trong hoạt động đầu tư...

Diệp Trương (TTXVN)