05:10 25/05/2026

Hoàn thiện cơ chế Sandbox thúc đẩy đổi mới mô hình quản trị và kinh doanh

Trong bối cảnh chuyển đổi số và cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đang trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoàn thiện thể chế và tạo dư địa cho các mô hình quản trị, kinh doanh mới phát triển.

Từng bước hình thành khung pháp lý Sandbox

Tại hội thảo khoa học “Giải pháp thực hiện ba đột phá chiến lược trong kỷ nguyên mới” do Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức, tham luận TS Chu Thị Hoa, Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp cho rằng, sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, blockchain, công nghệ sinh học hay tài chính số đang đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật hiện hành. Nhiều quy định chưa theo kịp thực tiễn, khiến doanh nghiệp đổi mới sáng tạo gặp khó khăn khi đưa sản phẩm, dịch vụ mới ra thị trường.

Trong bối cảnh đó, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (regulatory sandbox) được xem là công cụ quản trị hiện đại, cho phép thử nghiệm công nghệ, mô hình kinh doanh mới trong phạm vi, thời gian và điều kiện xác định dưới sự giám sát của cơ quan quản lý nhà nước trước khi áp dụng rộng rãi.

Chú thích ảnh
UAV đang thử nghiệm phun thuốc cho cây cà phê khu vực hồ Ảng Cang, bản Mánh Đanh, xã Mường Ảng, tỉnh Điện Biên. Ảnh: TTXVN

Những năm gần đây, Việt Nam đã từng bước xây dựng hành lang pháp lý cho cơ chế sandbox. Từ Nghị quyết số 52-NQ/TW năm 2019 về cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến các nghị quyết, luật và nghị định mới ban hành, tư duy lập pháp đã có sự chuyển biến rõ nét theo hướng linh hoạt hơn, tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo.

Đáng chú ý, Nghị quyết số 57-NQ/TW năm 2024 của Bộ Chính trị xác định yêu cầu nghiên cứu và áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong xây dựng chính sách đối với công nghệ mới. Tiếp đó, Nghị quyết số 03/NQ-CP năm 2025 giao nhiệm vụ cho các bộ, ngành xây dựng sandbox trong các lĩnh vực trọng điểm như AI, dữ liệu lớn, công nghệ tài chính, công nghệ sinh học và giao thông thông minh.

Quốc hội cũng đã thông qua Nghị quyết số 193/2025/QH15, tạo cơ sở pháp lý để thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc biệt tại các lĩnh vực có tiềm năng đột phá. Nghị định số 94/2025/NĐ-CP về sandbox trong lĩnh vực ngân hàng và Nghị quyết về thí điểm thị trường tài sản mã hóa được xem là những bước đi cụ thể đầu tiên trong việc thể chế hóa mô hình này.

Bên cạnh đó, Luật Thủ đô năm 2024, Luật Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025, Luật Công nghiệp công nghệ số và Luật Chuyển đổi số năm 2025 đều đã bổ sung các quy định liên quan đến hoạt động thử nghiệm có kiểm soát.

Theo TS Chu Thị Hoa, thực tiễn triển khai sandbox tại Việt Nam hiện tập trung ở một số lĩnh vực tiên phong như giao thông, chuyển đổi số và viễn thông.

Trong lĩnh vực giao thông, Việt Nam đã bước đầu thử nghiệm xe tự lái tại khu đô thị Ecopark (Hưng Yên), ứng dụng công nghệ của FPT và Yamaha. Một số doanh nghiệp như VinFast cũng đang nghiên cứu công nghệ xe tự hành. Hệ thống giao thông thông minh (ITS) sử dụng AI, IoT và dữ liệu lớn đã được triển khai thí điểm tại nhiều nút giao ở Hà Nội.

Ở lĩnh vực dữ liệu và chuyển đổi số, các mô hình thử nghiệm định danh điện tử (eKYC), xác thực công dân qua mã QR quốc gia đang được áp dụng trong ngân hàng, viễn thông và giao thông. Dù chưa có sandbox chính thức cho dữ liệu, nhiều sáng kiến thử nghiệm đã hình thành nền tảng cho hệ sinh thái pháp lý mới.

Trong lĩnh vực viễn thông, việc thúc đẩy triển khai 5G được đánh giá là mô hình thử nghiệm chính sách có kiểm soát. Theo Nghị quyết số 193/2025/QH15, doanh nghiệp triển khai tối thiểu 20.000 trạm phát sóng 5G trong năm 2025 được hỗ trợ 15% chi phí thiết bị từ ngân sách nhà nước. Đây được xem là bước tiến quan trọng hướng tới sandbox viễn thông thực thụ.

Nhu cầu cấp thiết hoàn thiện thể chế

Theo TS Chu Thị Hoa, trong bối cảnh Việt Nam thúc đẩy mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, yêu cầu hoàn thiện thể chế sandbox ngày càng trở nên cấp bách.

Nhiều công nghệ mới như AI, blockchain, IoT hay dữ liệu lớn đang được ứng dụng rộng rãi trong nông nghiệp, y tế, giáo dục, logistics và môi trường. Tuy nhiên, không ít mô hình kinh doanh đổi mới sáng tạo chưa được pháp luật điều chỉnh hoặc bị cản trở bởi các quy định cũ.

Sandbox vì vậy cần được xem là công cụ thể chế để tạo không gian thử nghiệm cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, đồng thời giúp cơ quan quản lý thu thập dữ liệu thực tiễn phục vụ hoàn thiện chính sách.

Theo chuyên gia, hiện nhiều startup gặp khó khăn pháp lý khi thương mại hóa sản phẩm mới. Nếu thiếu cơ chế thử nghiệm linh hoạt, Việt Nam có nguy cơ bỏ lỡ cơ hội thu hút đầu tư công nghệ và giảm năng lực cạnh tranh thể chế trong khu vực.

Trên thế giới, nhiều quốc gia đã triển khai sandbox từ sớm. Vương quốc Anh là nước tiên phong với chương trình sandbox của Cơ quan Quản lý tài chính (FCA) từ năm 2016. Singapore phát triển nhiều mô hình “sandbox express” với thủ tục tinh gọn, trong khi Hàn Quốc xây dựng sandbox đa lĩnh vực cho AI, y tế, giao thông, năng lượng và thành phố thông minh.

Theo TS Chu Thị Hoa, việc xây dựng sandbox tại Việt Nam không chỉ xuất phát từ nhu cầu nội tại mà còn nhằm thực hiện các cam kết quốc tế trong CPTPP và EVFTA liên quan đến thúc đẩy đổi mới công nghệ, nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ.

Để sandbox phát huy hiệu quả thực chất, TS Chu Thị Hoa cho rằng trước hết cần đổi mới tư duy xây dựng chính sách theo hướng từ “quản lý” sang “kiến tạo và đồng hành”.

Theo đó, cơ quan quản lý cần áp dụng phương thức điều hành linh hoạt, dựa trên đánh giá rủi ro thay vì kiểm soát hành chính cứng nhắc. Quá trình xây dựng chính sách phải có sự tham gia của doanh nghiệp, nhà khoa học, chuyên gia công nghệ và người dân.

Bên cạnh đó, cần tăng cường ứng dụng công nghệ số trong quản trị nhà nước và xây dựng pháp luật. AI, dữ liệu lớn và blockchain có thể hỗ trợ phân tích tác động chính sách, phát hiện khoảng trống pháp lý và nâng cao hiệu quả giám sát.

Về cấu trúc pháp lý, TS Chu Thị Hoa đề xuất xây dựng hai mô hình sandbox gồm “sandbox phức tạp” dành cho lĩnh vực rủi ro cao, cần giám sát chặt chẽ và “sandbox nhanh” áp dụng với mô hình kinh doanh đơn giản, thủ tục tinh gọn.

Khung pháp lý sandbox cần quy định rõ chủ thể tham gia gồm cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, tổ chức khoa học công nghệ, nhà đầu tư, đơn vị kiểm định và người tiêu dùng thử nghiệm.

Ngoài ra, cần thiết lập cơ chế phân loại rủi ro theo các mức thấp, trung bình và cao để áp dụng chế độ giám sát phù hợp. Thời gian thử nghiệm có thể kéo dài từ 12 tháng đến 36 tháng và được gia hạn trong một số lĩnh vực chuyên sâu như AI hay công nghệ sinh học.

TS Chu Thị Hoa cũng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng quy trình thử nghiệm minh bạch, gồm các giai đoạn: Đăng ký, phê duyệt, thử nghiệm, kết thúc thử nghiệm và lưu trữ hồ sơ. Trong quá trình này, cơ quan quản lý không chỉ giám sát mà còn cần đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp xử lý các vấn đề pháp lý phát sinh.

Một nội dung quan trọng khác là cơ chế miễn trừ trách nhiệm và bảo vệ cán bộ thực thi. Theo chuyên gia, cần quy định rõ việc cán bộ không bị xử lý trách nhiệm hành chính hoặc hình sự nếu đã thực hiện đúng quy trình phê duyệt và giám sát sandbox, nhằm khắc phục tâm lý sợ sai, né tránh trách nhiệm.

Cùng với đó, việc ứng dụng công nghệ để giám sát thời gian thực, đánh giá rủi ro động và kết nối dữ liệu giữa các cơ quan quản lý cần được đẩy mạnh để nâng cao hiệu quả vận hành sandbox.

Theo TS Chu Thị Hoa, kết quả thử nghiệm cần được tổng hợp thành dữ liệu chính sách phục vụ hoàn thiện pháp luật. Các mô hình thành công cần có cơ chế “cầu nối” để chuyển sang khuôn khổ pháp lý chính thức, tránh tình trạng “hết sandbox là hết pháp lý”.

“Sandbox không chỉ là công cụ kỹ thuật pháp lý mà còn phản ánh sự chuyển đổi căn bản trong tư duy quản trị nhà nước, từ kiểm soát sang kiến tạo phát triển”, TS Chu Thị Hoa nhấn mạnh.

XM/Báo Tin tức và Dân tộc