07:20 29/07/2026
Việc Hoa Kỳ áp mức thuế nhập khẩu 12,5% lên 60 đối tác thương mại, trong đó có Việt Nam, đang tạo ra những thách thức mới cho các ngành xuất khẩu. Tuy nhiên, theo ghi nhận từ các doanh nghiệp và chuyên gia, hàng dệt may Việt Nam vẫn giữ được sức cạnh tranh.
May hàng xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản tại Công ty May Hưng Việt, Hưng Yên. Ảnh: Trần Việt/TTXVN
Mức thuế bổ sung 12,5% theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại Hoa Kỳ được áp dụng thay cho mức thuế nền tạm thời 10%. Dệt may là một trong những ngành chịu tác động trực tiếp do phần lớn sản phẩm không nằm trong danh mục miễn trừ. Áp lực không chỉ đến từ mức thuế mà còn từ khoảng chênh lệch chính sách giữa Việt Nam và các đối thủ cạnh tranh trong khu vực. Trong khi hàng hóa Việt Nam chịu thuế 12,5%, các sản phẩm từ Bangladesh, Campuchia, Indonesia và Malaysia chịu mức 10%.
Dù chênh lệch 2,5 điểm phần trăm vẫn thấp hơn mức thuế 20% mà hàng Việt Nam từng chịu vào đầu năm và Việt Nam đang tích cực đàm phán thương mại với Mỹ, nhưng đây vẫn là yếu tố đáng cân nhắc đối với các nhà nhập khẩu quốc tế trong một ngành có biên lợi nhuận thấp và cạnh tranh chủ yếu bằng giá.
Đánh giá về tình hình hiện tại, ông Bạch Thanh Long, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty May 10 cho biết doanh nghiệp chưa chịu ảnh hưởng trực tiếp ngay lập tức vì các đơn hàng đã được xác nhận đến hết năm. Phía khách hàng hiện tại cũng chưa đặt vấn đề chia sẻ chi phí này và tác động có thể chỉ rõ nét hơn từ năm 2027 trở đi. Trong ngắn hạn, các doanh nghiệp đang tập trung xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc thực chất, chuẩn bị tài liệu minh bạch để sẵn sàng cung cấp khi đối tác hoặc khách hàng có yêu cầu.
Nêu quan điểm về vấn đề này, ông Trần Văn Quy, Tổng Giám đốc Công ty Dệt may Trung Quy (TP Hồ Chí Minh) cho biết, hiện các đơn hàng của doanh nghiệp đã được lấp đầy cho đến hết tháng 10, nên chưa chịu tác động trực tiếp từ chính sách thuế mới. Dù vậy, với những đơn hàng ký mới trong thời gian tới, áp lực chắc chắn sẽ xuất hiện. Tuy nhiên, ông Quy cũng chỉ ra rằng việc điều chỉnh mức thuế là chính sách áp dụng chung chứ không riêng đối với Việt Nam. Do đó, nếu doanh nghiệp kiểm soát tốt giá thành đi kèm với việc đảm bảo chất lượng sản phẩm, khả năng thích ứng với thị trường vẫn hoàn toàn khả thi thông qua quá trình đàm phán, thỏa thuận linh hoạt với các đối tác.
Mặc dù vậy, theo ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), khoảng chênh lệch 2,5 điểm phần trăm so với các quốc gia cạnh tranh trực tiếp có thể khiến việc phân bổ đơn hàng của các nhà nhập khẩu quốc tế sang các thị trường khác trở nên hấp dẫn hơn. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn giữ vững lợi thế về quy mô sản xuất, năng lực đáp ứng đơn hàng, lực lượng lao động và mạng lưới doanh nghiệp đã được hình thành trong nhiều năm. Bối cảnh mới này đồng thời làm rõ hơn tầm quan trọng của việc kiểm soát nguồn nguyên liệu, tuân thủ tiêu chuẩn lao động và tính minh bạch của chuỗi cung ứng.
Cùng chung nhận định, ông Hoàng Mạnh Cầm, Chánh Văn phòng Tập đoàn Vinatex cho rằng, trong trường hợp một số đối thủ cạnh tranh được áp mức thuế thấp hơn, doanh nghiệp Việt Nam có thể chịu áp lực cạnh tranh nhất định. Nhưng xét trên tổng thể, triển vọng xuất khẩu chưa bị ảnh hưởng quá nghiêm trọng. Chi phí gia tăng từ thuế quan nhiều khả năng sẽ được chia sẻ giữa các mắt xích trong chuỗi cung ứng, từ nhà sản xuất, nhà bán lẻ đến người tiêu dùng Mỹ, thay vì hoàn toàn dồn lên doanh nghiệp sản xuất trong nước.
Tác động của thuế quan sẽ phân hóa rõ rệt giữa các nhóm doanh nghiệp. Những đơn vị sở hữu khách hàng ổn định, sản phẩm chuyên biệt, năng lực sản xuất lớn và chuỗi cung ứng minh bạch sẽ có khả năng thích ứng tốt hơn. Ngược lại, những doanh nghiệp chủ yếu làm gia công với giá trị gia tăng thấp sẽ chịu áp lực lớn do dư địa hấp thụ chi phí hạn chế.
Dù Việt Nam đã vượt Trung Quốc để trở thành nước xuất khẩu hàng may mặc lớn nhất vào Mỹ từ năm 2025, nhưng những rào cản chi phí mới bắt buộc các thương hiệu phải tính toán lại. Trước các biến động này, ông Lê Tiến Trường, Chủ tịch Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex), nhấn mạnh giải pháp cốt lõi cho doanh nghiệp là tập trung giữ chân khách hàng, duy trì việc làm cho người lao động, linh hoạt về tài chính và giá bán, đồng thời tăng cường đầu tư công nghệ nhằm nâng cao năng suất và bảo vệ năng lực cạnh tranh.
Xem xét ở bài toán dài hạn, áp lực thuế quan được xem là động lực để ngành dệt may Việt Nam đẩy nhanh quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Hiện tại, điểm nghẽn lớn của ngành vẫn là giá trị gia tăng và khả năng tự chủ chuỗi cung ứng. Dù kim ngạch xuất khẩu toàn ngành năm 2025 đạt 46 tỷ USD (tăng khoảng 5,6% so với năm trước) và tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa cải thiện lên khoảng 52%, ngành vẫn phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Nguồn cung trong nước mới đáp ứng khoảng 40% nhu cầu nguyên phụ liệu; phần lớn vải phải nhập từ Trung Quốc, Hàn Quốc, còn xơ sợi phụ thuộc vào Ấn Độ, Trung Quốc và Mỹ. Áp lực hiện nay sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp chuyển dịch từ mô hình gia công CMT (hiện chiếm khoảng 70% sản lượng) sang các mô hình có giá trị cao hơn như FOB, ODM hoặc OBM.
Chia sẻ về hướng đi thực tế, bà Phạm Thị Phương Hoa, Đại diện May Hưng Yên, cho biết doanh nghiệp đã chủ động đa dạng hóa tập khách hàng để giảm bớt phụ thuộc vào các thị trường truyền thống, đẩy mạnh đầu tư công nghệ và tối ưu hóa năng suất nhằm bù đắp chi phí vận tải gia tăng.
Bất chấp khó khăn, Việt Nam vẫn nắm giữ những lợi thế vượt trội mà các đối thủ khó thay thế. Các chuyên gia đánh giá Việt Nam tiếp tục là mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng may mặc toàn cầu nhờ quy mô sản xuất lớn, lực lượng lao động lành nghề và hệ sinh thái doanh nghiệp phụ trợ hoàn thiện. Thêm vào đó, hệ thống các hiệp định thương mại tự do (FTA) rộng mở với EU, CPTPP và nhiều nền kinh tế lớn giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường, bù đắp sự suy giảm tại Mỹ và thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài.
Theo số liệu từ VITAS, trong nửa đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu dệt may đạt ước khoảng 22,2 tỷ USD, tăng 1,7% so với cùng kỳ. Các nhóm sản phẩm xơ sợi, vải, phụ liệu tăng trưởng từ 5,6% đến 10,6%, trong khi xuất khẩu hàng may mặc giảm nhẹ 0,4% do sức mua toàn cầu phục hồi chậm. Chủ tịch VITAS Vũ Đức Giang nhận định những tháng cuối năm là thời điểm toàn ngành cần tái cơ cấu sâu rộng về thị trường, sản phẩm và công nghệ.
Dự báo xuất khẩu nửa cuối năm 2026 sẽ gặp nhiều khó khăn và khuyến nghị các doanh nghiệp cần tích cực đa dạng hóa thị trường sang khu vực ASEAN và các nước ngoài Mỹ. Trước mắt, việc gia tăng nhập khẩu bông từ Mỹ (dù chi phí cao hơn 4 - 7%) có thể giúp giảm nguy cơ bị áp thuế liên quan đến xuất xứ. Về lâu dài, giải pháp căn cơ vẫn là đẩy mạnh phát triển công nghiệp dệt trong nước, tháo gỡ điểm nghẽn ở khâu dệt vải để nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và chủ động nguồn cung.
Hằng Trần (TTXVN)
|