03:11 30/03/2026

Hà Nội đề xuất lộ trình chuyển đổi xe buýt sử dụng năng lượng xanh

Ngày 30/3, Sở Xây dựng Hà Nội cho biết, Trung tâm Quản lý và Điều hành giao thông thành phố Hà Nội vừa có báo cáo gửi Sở Xây dựng Hà Nội về phương án điều chỉnh, tăng cường các tuyến buýt phục vụ kế hoạch chuyển đổi phương tiện phương tiện theo Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày 12/7/2025 của Thủ tướng Chính phủ.

Chú thích ảnh
Hành khách lên xe buýt điện tại đường Minh Khai, Hà Nội. Ảnh minh họa: Hoàng Hiếu/TTXVN

Theo đó, mục tiêu của phương án nhằm đảm bảo tỷ lệ phương tiện xe buýt điện, năng lượng xanh theo lộ trình chuyển đổi phương tiện trong khu vực Vành đai 1, 2, 3 theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại và lộ trình thực hiện vùng phát thải thấp tại Điều 11 Nghị quyết số 57/2025/NQ-HĐND ngày 26/11/2025 của HĐND thành phố Hà Nội. Cụ thể, đến ngày 1/7/2026, 100% xe buýt hoạt động trong Vành đai 1 sử dụng năng lượng xanh (CNG/Điện), đến ngày 1/1/2028, 100% xe buýt hoạt động trong Vành đai 2 sử dụng năng lượng xanh (CNG/Điện), từ năm 2030, 100% xe buýt điện trong Vành đai 3 sử dụng năng lượng xanh (CNG/Điện).

Phương án đề xuất điều chỉnh các tuyến buýt như sau: Giai đoạn 1, từ 1/7/2026: Giữ nguyên 20 tuyến (tuyến số 08A, 08B, 09A, 09B, 34, 43, E02, E05, E07, E08, E09, E11, 60A, E07TC (Điện), 142, 143, 144, 159 (CNG), BRT 01, 13); Giữ nguyên do thay đổi phương tiện trước 1/7/2026 gồm 7 tuyến (tuyến số 11, 28, 36, 38, 41, 49, 90); Yêu cầu chuyển đổi phương tiện điện, xanh trước 1/7/2026 gồm 1 tuyến số 23; Điều chỉnh điểm đầu cuối 6 tuyến (tuyến số 40, 50, 52, 99, 107, 146); Điều chỉnh lộ trình tuyến với 11 tuyến (tuyến số 01, 02, 03A, 04, 22A, 25, 30, 31, 32, 35A, 42).

Giai đoạn 2, từ 1/1/2028: Giữ nguyên 10 tuyến (tuyến số 19, 21A, 21B, 47A, 47B, E03, E10 (Điện), 161 (CNG), 07, 96); giữ nguyên do thay đổi phương tiện trước 1/1/2028 gồm 12 tuyến (tuyến số 12, 15, 17, 24, 26, 27, 33, 54, 55, 98, 100, 105); Yêu cầu chuyển đổi phương tiện điện, xanh trước 1/1/2028 đối với 2 tuyến số 65, 122; Điều chỉnh điểm đầu cuối với 3 tuyến (tuyến số 48, 51, 84); Điều chỉnh lộ trình tuyến với 2 tuyến (tuyến số 58, 69).

Giai đoạn 3, từ năm 2030: Giữ nguyên 9 tuyến (tuyến số 37, 39, 59, 05, E01, E04, E06, E06TC (Điện), 158 (CNG); Giữ nguyên do thay đổi phương tiện trước 1/1/2030 đối với 22 tuyến (tuyến số 16, 29, 46, 61, 85, 93, 94, 97, 104, 106, 03B, 06A, 06B, 06C, 06D, 06E, 101A, 101B, 22B, 35B, 53A, 60B); Yêu cầu chuyển đổi phương tiện điện, xanh trong năm 2030 với 1 tuyến số 95.

Về phương án mở mới, giai đoạn 1, từ 1/7/2026, mở mới 12 tuyến buýt, bao gồm: Đại học Mỏ - Công viên Thống Nhất; Khu đô thị Gamuda - Hào Nam; Trần Khánh Dư - Bến xe Mỹ Đình; Nam Thăng Long - Yên Sở; Khu đô thị Thanh Hà - Hào Nam; Kim Mã - Tả Thanh Oai; Bến xe Mỹ Đình - Long Biên; Hào Nam - Khu công nghiệp Bắc Thăng Long; Khu đô thị Thanh Hà - Cầu Giấy; Bến xe Nước Ngầm - Ga Hà Nội; Trung Tâm triển lãm Việt Nam - Ga Hà Nội; Cầu Giấy - Công viên Thống Nhất.

Giai đoạn 2, từ 1/1/2028 mở mới 6 tuyến buýt, bao gồm: Phúc Lợi - Cầu Giấy; Bến xe Giáp Bát - Cầu Giấy; Long Biên - Nhổn; Công viên nước Hồ Tây - Bến xe Nước Ngầm; Nam Thăng Long - Bến xe Yên Nghĩa; Bệnh viện bệnh Nhiệt đới Trung ương cơ sở 2 - Công viên Thống Nhất. Giai đoạn 3, từ năm 2030: Do các tuyến buýt đã hình thành từ 2 giai đoạn trước và kế hoạch chuyển đổi phương tiện được chuyển đổi toàn bộ nên không đề xuất mở mới các tuyến buýt tại giai đoạn này.

Theo Trung tâm Quản lý và Điều hành giao thông thành phố Hà Nội, tính đến tháng 3/2026, mạng lưới xe buýt trên địa bàn thành phố có 155 tuyến, trong đó có 128 tuyến buýt trợ giá, 11 tuyến buýt không trợ giá, 13 tuyến buýt kế cận và 3 tuyến City tour. Mạng lưới xe buýt tiếp cận đến 126/126 xã, phường (đạt 100%); kết nối với 5 tỉnh thành lân cận (Hải Phòng, Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình và Phú Thọ).

Về hạ tầng xe buýt, tổng số có 5.024 điểm dừng, 354 nhà chờ, 5 điểm trung chuyển, 133 điểm đầu cuối và 12,9 km đường dành riêng. Về số lượng doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, tổng số có 11 đơn vị khai thác vận hành thực hiện 128 tuyến buýt trợ giá (trong đó Tổng công ty vận tải Hà Nội chiếm thị phần lớn nhất (68 tuyến, chiếm 53,1%). Đối với đoàn phương tiện, tổng số xe buýt toàn mạng là 2.239 xe; trong đó, buýt trợ giá là 1.925 xe, 29,1% và trên 1.500 xe đạt tiêu chuẩn khí thải Euro IV trở lên.

Về loại vé và mức giá vé có 3 loại vé (vé lượt; vé tháng; thẻ vé miễn phí); mức giá vé lượt được xác định theo cự ly tuyến; mức giá vé tháng được xác định theo đơn tuyến, liên tuyến, đối tượng mua tập thể. Về chính sách ưu đãi giá vé, miễn phí 5 nhóm đối tượng, bao gồm: Người có công, người khuyết tật, người cao tuổi >60 tuổi, trẻ em < 6 tuổi; nhân khẩu thuộc hộ nghèo; hỗ trợ 50% giá vé tháng đối với học sinh, sinh viên, công nhân các khu công nghiệp; Hỗ trợ 30% giá vé tháng đối với cán bộ, nhân viên tại các văn phòng công sở, doanh nghiệp ngoài khu công nghiệp mua vé tháng theo hình thức tập thể.

Hiện trạng xe buýt trong khu vực Vành đai 1 có tổng số 45 tuyến buýt (tuyến và nhánh tuyến) hoạt động, trong đó có 14 tuyến buýt điện, 4 tuyến CNG3 và 27 tuyến buýt diesel. Số tuyến buýt có điểm đầu cuối trong khu vực Vành đai 1 là 15 tuyến. Trong khu vực Vành đai 2 có tổng số 74 tuyến buýt (tuyến và nhánh tuyến) hoạt động, trong đó có 21 tuyến buýt điện, 5 tuyến CNG và 48 tuyến buýt diesel. Số tuyến buýt có điểm đầu cuối trong khu vực Vành đai 2 là 52 tuyến. Trong khu vực Vành đai 3 có tổng số 106 tuyến buýt (tuyến và nhánh tuyến) hoạt động, trong đó có 30 tuyến buýt điện, 6 tuyến CNG và 70 tuyến buýt diesel. Số tuyến buýt có điểm đầu cuối trong và trên khu vực Vành đai 3 Là 81 tuyến.

Thực tế cho thấy, hiện mạng lưới xe buýt phát triển rộng khắp phục vụ nhân dân đi lại (126/126 xã phường). Cùng với đường sắt đô thị, mạng lưới xe buýt trở thành phương tiện giao thông đi lại nòng cốt trong đô thị. Nhiều chính sách ưu đãi, khuyến khích cho dân Thủ đô tham gia loại hình dịch vụ này vượt trội so với các địa phương trong cả nước. Hình thức vé đa dạng với nhiều đối tượng khác nhau. Xe buýt xanh, sạch thân thiện với môi trường được triển khai rộng khắp. Chất lượng đoàn xe được nâng cao, chủng loại xe hoạt động đa dạng phù hợp với điều kiện hạ tầng khu vực.

Theo ông Thái Hồ Phương, Giám đốc Trung tâm Quản lý và Điều hành giao thông thành phố Hà Nội, qua rà soát, hiện có 44 tuyến buýt trợ giá (tuyến và nhánh tuyến) hoạt động trong khu vực vành đai 1 (trong đó, có 12 tuyến xe buýt điện và 4 tuyến CNG, còn lại 28 tuyến buýt diesel). Các tuyến buýt này hầu hết là các tuyến buýt nội thành, xuyên tâm kết nối các khu vực nội thành với nhau và các khu vực ngoài Vành đai 3 đi vào khu vực nội thành. Các tuyến buýt hiện nay cơ bản hoạt động ổn định, phục vụ khá tốt nhu cầu của nhân dân.

Tuy nhiên, để phục vụ kế hoạch, lộ trình chuyển đổi phương tiện trong khu vực Vành đai 1, 2, 3 theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 20/CT- TTg ngày 12/7/2025 (từ ngày 1/7/2026 không có xe mô tô, xe gắn máy sử dụng nhiên liệu hóa thạch lưu thông trong Vành đai 1; từ 1/1/2028 không có xe mô tô, xe gắn máy, hạn chế xe ô tô cá nhân sử dụng nhiên liệu hóa thạch lưu thông trong Vành đai 1, Vành đai 2; từ năm 2030 tiếp tục mở rộng thực hiện trong đường Vành đai 3), việc tổ chức lại và tăng cường năng lực của xe buýt là cần thiết để phục vụ nhu cầu đi lại của người dân khi thực hiện chuyển đổi phương tiện theo Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày 12/7/2025 của Thủ tướng Chính phủ.

Nguyễn Thắng (TTXVN)