Sau 1 năm 6 tháng triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW, nhiều nhiệm vụ đã được các bộ, ngành, địa phương triển khai với tỷ lệ hoàn thành cao. Tuy nhiên, kết quả thực tiễn vẫn chưa tương xứng với kỳ vọng khi hàng loạt điểm nghẽn về thể chế, chuyển đổi số, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo tiếp tục cản trở quá trình phát triển.
Việc nhận diện đúng những "nút thắt" này được xem là tiền đề quan trọng để đưa khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực sự trở thành động lực phát triển đất nước.
Tỷ lệ hoàn thành cao nhưng hiệu quả chưa tương xứng
Sau quá trình triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW, nhiều nhiệm vụ đã được các bộ, ngành và địa phương tập trung thực hiện. Tỷ lệ hoàn thành nhiệm vụ đạt tới 84,8%, phản ánh sự vào cuộc tích cực của các cơ quan trong hệ thống chính trị.
Tuy nhiên, kết quả đạt được trên thực tế vẫn chưa tỷ lệ thuận với con số báo cáo. Không ít nhiệm vụ dù được xác định là đã hoàn thành nhưng mới dừng ở việc ban hành văn bản, xây dựng kế hoạch, đề án hoặc các sản phẩm trung gian, chưa tạo được chuyển biến rõ nét trong thực tiễn.
Người dân đợi làm thủ tục hành chính công tại Hà Nội.
Theo đánh giá của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng này xuất phát từ đặc thù của các nhiệm vụ liên ngành, có tính chất mới, chưa có tiền lệ. Trong khi đó, việc xác định sản phẩm đầu ra, phân công đầu mối chịu trách nhiệm cũng như cơ chế phối hợp giữa các cơ quan vẫn chưa thật sự rõ ràng.
Bên cạnh đó, việc bố trí nguồn lực còn chậm, tâm lý e ngại trách nhiệm, né tránh hoặc đùn đẩy công việc ở một số nơi vẫn tồn tại, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ và chất lượng thực hiện nhiệm vụ.
Từ thực tế đó, Ban Chỉ đạo nhấn mạnh yêu cầu chỉ công nhận hoàn thành nhiệm vụ khi có sản phẩm đúng yêu cầu, có minh chứng cụ thể và mang lại kết quả thực chất, thay vì chỉ dừng lại ở việc hoàn thành các thủ tục hành chính hoặc ban hành văn bản.
Thể chế vẫn là điểm nghẽn lớn
Một trong những nút thắt được chỉ ra là hệ thống thể chế và tổ chức thực hiện thể chế vẫn chưa theo kịp yêu cầu phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Thời gian qua, nhiều cơ chế, chính sách đã được ban hành nhưng việc xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành còn chậm, thiếu đồng bộ, khiến quá trình triển khai ở các bộ, ngành và địa phương gặp nhiều khó khăn.
Đặc biệt, nhiều cơ chế quan trọng như đặt hàng nghiên cứu, khoán theo kết quả, đồng tài trợ, mua sắm công phục vụ đổi mới sáng tạo, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, định giá tài sản trí tuệ, cơ chế quỹ hay quy trình nghiệm thu vẫn chưa được cụ thể hóa thành những quy định rõ ràng, dễ thực hiện.
Điều này khiến nhiều chính sách dù đã có chủ trương nhưng chưa thể đi vào cuộc sống hoặc phát huy hiệu quả như kỳ vọng.
Theo phân công trách nhiệm, nhiều bộ, ngành cần khẩn trương hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn các luật có hiệu lực từ ngày 1/7/2026; đồng thời sớm ban hành các khung kiến trúc dữ liệu, khung quản trị dữ liệu và từ điển dữ liệu nhằm tạo nền tảng thống nhất cho quá trình chuyển đổi số.
Bên cạnh đó, công tác theo dõi, đôn đốc việc hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng cần được tăng cường nhằm bảo đảm các quy định mới được triển khai đồng bộ, thống nhất giữa các cơ quan.
Chuyển đổi số còn nhiều "điểm nghẽn"
Bên cạnh thể chế, chuyển đổi số tiếp tục được xác định là lĩnh vực còn nhiều tồn tại cần tập trung xử lý dứt điểm trong năm 2026.
Trước hết là hạ tầng số chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Tại nhiều khu vực vùng sâu, vùng xa vẫn còn tình trạng lõm sóng hoặc thiếu điện, ảnh hưởng trực tiếp đến việc triển khai các nền tảng số.
Đáng chú ý, khoảng 30% thiết bị đầu cuối như máy tính và các thiết bị phục vụ nghiệp vụ vẫn chưa đáp ứng yêu cầu làm việc tối thiểu, gây khó khăn trong quá trình triển khai các nhiệm vụ chuyển đổi số tại cơ sở.
Hệ thống mạng bảo mật phục vụ gửi, nhận văn bản có cấp độ mật mới chỉ được triển khai giữa các cơ quan Đảng, trong khi các khối cơ quan khác chưa hoàn thành kết nối liên thông.
Để khắc phục tình trạng này, các cơ quan, địa phương được yêu cầu khẩn trương rà soát, nâng cấp hạ tầng số, trang thiết bị, bảo đảm điều kiện kỹ thuật phục vụ chuyển đổi số. Đồng thời, các đơn vị liên quan cần đẩy nhanh tiến độ phủ sóng viễn thông, bảo đảm điện lưới, chuẩn hóa nhu cầu đầu tư cũng như tăng cường bảo đảm an toàn thông tin.
Một điểm nghẽn khác là tiến độ xây dựng cơ sở dữ liệu và phát triển dữ liệu còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế dữ liệu cũng như triển khai các dịch vụ công trực tuyến.
Nhiều cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành vẫn trong quá trình hoàn thiện, chưa được kết nối, đồng bộ hoặc khai thác hiệu quả. Việc tạo lập, làm sạch và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Không chỉ dữ liệu, các nền tảng số quốc gia và nền tảng chuyên ngành cũng chưa đạt yêu cầu về tính ổn định và khả năng tích hợp. Một số hệ thống hoạt động chưa thống nhất theo chuẩn chung, còn khó sử dụng, gây nhiều bất cập cho người dân, doanh nghiệp và đội ngũ công chức, nhất là ở cấp cơ sở.
Chất lượng dịch vụ công trực tuyến cũng được đánh giá là còn nhiều hạn chế. Một số hệ thống giải quyết thủ tục hành chính chưa đáp ứng yêu cầu thực tế, việc tái cấu trúc quy trình, số hóa hồ sơ và khai thác dữ liệu chưa đồng bộ, làm giảm hiệu quả cung cấp dịch vụ công trong bối cảnh triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Bên cạnh đó, chất lượng nguồn nhân lực số vẫn là bài toán lớn. Từ đội ngũ chuyên gia, cán bộ trực tiếp thực hiện đến cộng đồng người dân đều cần tiếp tục được đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số để đáp ứng yêu cầu của tiến trình chuyển đổi số.
Một vấn đề khác được Ban Chỉ đạo đặc biệt lưu ý là nguy cơ mất an toàn, an ninh mạng khi vẫn còn nhiều hệ thống thông tin chưa bảo đảm an toàn theo cấp độ. Điều này đòi hỏi các bộ, ngành và địa phương phải nâng cao nhận thức, chủ động triển khai các giải pháp bảo vệ hạ tầng số, dữ liệu và các nền tảng dùng chung.
Khoa học công nghệ cần tháo gỡ đồng bộ
Bên cạnh những hạn chế về thể chế và chuyển đổi số, Ban Chỉ đạo Trung ương cũng chỉ rõ nhiều điểm nghẽn đang cản trở sự phát triển của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Các vướng mắc trải dài từ khâu xác lập định hướng chiến lược, lựa chọn nhiệm vụ nghiên cứu, tổ chức triển khai, nghiệm thu, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho đến thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Theo đánh giá, việc xác lập định hướng chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vẫn còn thiếu sự thống nhất. Hiện tồn tại nhiều danh mục khác nhau như danh mục công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược, công nghệ cao ưu tiên đầu tư phát triển hay sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trọng điểm. Việc thiếu một đầu mối điều phối thống nhất có nguy cơ dẫn đến đầu tư dàn trải, phân tán nguồn lực và khó hình thành các sản phẩm có sức cạnh tranh lớn.
Cùng với đó, cơ chế hướng dẫn đặt hàng nghiên cứu từ yêu cầu thực tiễn của sản xuất, kinh doanh vẫn chưa được hoàn thiện. Vai trò của Tổng công trình sư chưa có hành lang pháp lý đủ mạnh, trong khi mối liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp còn lỏng lẻo, thiếu cơ chế ràng buộc và phối hợp hiệu quả.
Một trong những tồn tại được chỉ rõ là quy trình xác lập nhiệm vụ nghiên cứu hiện nay chưa thực sự khuyến khích các tổ chức, nhà khoa học chủ động đề xuất ý tưởng mới. Thực tế, nhiều đơn vị đã phát hiện bài toán từ nhu cầu của thực tiễn, nhưng sau khi được hội đồng xác định thành nhiệm vụ khoa học của Nhà nước thì lại phải tham gia tuyển chọn như các đơn vị khác. Điều này khiến đơn vị đề xuất ban đầu không còn lợi thế, làm giảm động lực tìm tòi, phát hiện các vấn đề mới cần nghiên cứu.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp vẫn chưa tham gia sâu ngay từ khâu xác định bài toán nghiên cứu. Mô hình liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp chưa được thể chế hóa thành cơ chế pháp lý bắt buộc. Hội đồng thẩm định ở nhiều nơi còn nặng về thủ tục hành chính, thiếu các chuyên gia đầu ngành có kinh nghiệm thực tiễn.
Nguồn lực tài chính dành cho nghiên cứu cũng bộc lộ nhiều bất cập. Kinh phí còn phân tán, tiến độ giải ngân chậm, trong khi chưa hình thành cơ chế đồng tài trợ công - tư bắt buộc hoặc quỹ đầu tư rủi ro của Nhà nước dành cho công nghệ cao. Điều này khiến nhiều đề tài nghiên cứu gặp khó khăn ngay từ giai đoạn triển khai.
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ, cơ chế khoán chi vẫn chưa được áp dụng đồng bộ. Nhiều đơn vị vẫn phải thanh quyết toán theo chứng từ với quy trình cứng nhắc, chưa phù hợp với đặc thù của hoạt động nghiên cứu.
Mặc dù cơ chế dự toán và khoán chi theo nhiệm vụ đã được thúc đẩy, song định mức chi tại nhiều cơ quan vẫn chưa theo kịp mặt bằng thị trường, đặc biệt đối với chi phí dành cho đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học và nhân lực công nghệ cao. Đây là một trong những nguyên nhân làm giảm khả năng thu hút, giữ chân nhân tài và nâng cao chất lượng nghiên cứu.
Ở khâu nghiệm thu, việc chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu vẫn cần tiếp tục được cụ thể hóa. Nhiều hội đồng đánh giá vẫn thiên về xem xét quy trình, hồ sơ hơn là hiệu quả ứng dụng, tác động thực tiễn và khả năng thương mại hóa của sản phẩm khoa học. Sau nghiệm thu cũng chưa có cơ chế theo dõi, đánh giá hiệu quả ứng dụng để làm căn cứ điều chỉnh chính sách tài trợ nghiên cứu trong những giai đoạn tiếp theo.
Việc nhận diện đầy đủ những tồn tại, điểm nghẽn trong quá trình triển khai Nghị quyết 57 không chỉ giúp các bộ, ngành và địa phương nhìn rõ những hạn chế cần khắc phục mà còn tạo cơ sở để hoàn thiện cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện trong thời gian tới.