05:16 21/05/2026

Gỡ điểm nghẽn thể chế cho hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo

Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang trở thành động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế. Tuy nhiên, khi các mô hình kinh doanh số, tài sản số, dữ liệu hay trí tuệ nhân tạo phát triển nhanh hơn khả năng phản ứng của chính sách, nhiều khoảng trống pháp lý cũng bắt đầu xuất hiện.

Điều này đặt ra yêu cầu phải xây dựng một khung pháp lý thích ứng, đủ linh hoạt để mở đường cho đổi mới sáng tạo nhưng vẫn bảo đảm kiểm soát rủi ro và giữ ổn định thị trường.

Đây cũng là vấn đề được ông Ngô Vĩnh Bạch Dương, Viện Nhà nước và Pháp luật, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam phân tích trong nghiên cứu về khung pháp lý cho hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, lực lượng sản xuất mới và các mô hình kinh doanh mới ở Việt Nam.

Thể chế phải đi trước một bước

Theo phân tích, Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, khi các động lực tăng trưởng truyền thống như lao động giá rẻ hay khai thác tài nguyên dần bộc lộ giới hạn. Thay vào đó, khoa học công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao và kinh tế số đang trở thành nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia.

Chú thích ảnh
Ông Ngô Vĩnh Bạch Dương, Viện Nhà nước và Pháp luật.

Trong bối cảnh đó, hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo không còn là khu vực “bổ trợ”, mà đang trở thành một phần quan trọng của nền kinh tế. Những doanh nghiệp công nghệ, nền tảng số, mô hình kinh doanh dựa trên dữ liệu hay trí tuệ nhân tạo chính là lực lượng sản xuất mới của thời kỳ chuyển đổi số.

Nhiều chủ trương lớn của Đảng đã xác lập định hướng này. Nghị quyết 57-NQ/TW xác định phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu. Nghị quyết 66-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, xóa bỏ tư duy “không quản được thì cấm”. Nghị quyết 68-NQ/TW tiếp tục khẳng định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế và là lực lượng tiên phong trong đổi mới sáng tạo.

Theo ông Ngô Vĩnh Bạch Dương, vấn đề hiện nay không nằm ở chỗ Việt Nam thiếu hoàn toàn cơ sở pháp lý. Hiến pháp năm 2013 đã bảo hộ quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu và quyền sở hữu trí tuệ. Nhiều đạo luật như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Giao dịch điện tử, Luật Sở hữu trí tuệ hay Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã tạo nền tảng cho hoạt động kinh doanh và giao dịch số.

Tuy nhiên, khoảng cách giữa thực tiễn công nghệ và khả năng thích ứng của pháp luật đang ngày càng rõ nét. Cái mới được khuyến khích về mặt chính sách nhưng khi xuất hiện trong thực tiễn lại thường gặp lúng túng về mặt pháp lý.

Nhiều mô hình mới như tài sản số, nền tảng dữ liệu, AI, fintech hay kinh tế nền tảng không dễ xếp vào các “ô pháp lý” truyền thống. Trong khi pháp luật được thiết kế cho nền kinh tế hữu hình, ổn định và có ranh giới ngành nghề rõ ràng, thì kinh tế số lại vận động theo hướng xuyên biên giới, vô hình hóa và lai ghép đa ngành.

Từ thực tế đó, nghiên cứu cho rằng Việt Nam cần một “khung pháp lý thích ứng”. Đây không phải là một đạo luật mới hay một tầng pháp luật độc lập, mà là cách tổ chức và vận hành hệ thống pháp luật theo hướng linh hoạt hơn, lấy đổi mới sáng tạo và quản trị rủi ro làm trung tâm.

Bốn điểm nghẽn lớn của hệ thống pháp lý

Một trong những điểm nghẽn lớn hiện nay là sự lúng túng trong định danh dữ liệu, tài sản số và sản phẩm trí tuệ số.

Trong nền kinh tế số, dữ liệu ngày càng trở thành nguồn lực sản xuất quan trọng. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành vẫn chủ yếu được xây dựng dựa trên tài sản hữu hình truyền thống. Điều này dẫn tới hàng loạt câu hỏi chưa có lời giải rõ ràng: dữ liệu có phải tài sản hay không, quyền khai thác dữ liệu được xác lập như thế nào, sản phẩm do AI tạo ra được bảo hộ ra sao, hay mô hình AI và dữ liệu huấn luyện cần được điều chỉnh theo cơ chế nào.

Chú thích ảnh
Trung tâm đổi mới sáng tạo Công nghiệp 4.0 (IIC) thuộc Trường Quốc tế Miền Đông (Eastern International University) nơi đào tạo nhân lực chất lượng cao. Ảnh: TXVN

Theo ông Ngô Vĩnh Bạch Dương, Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng với Luật Giao dịch điện tử năm 2023 hay các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh mạng. Tuy nhiên, các quy định này chưa hình thành được một chế định đầy đủ về dữ liệu như một nguồn lực phát triển.

Điểm nghẽn thứ hai nằm ở khó khăn trong nhận diện các mô hình kinh doanh lai ghép.

Các nền tảng số hiện nay thường đồng thời đóng nhiều vai trò: vừa là doanh nghiệp công nghệ, vừa là trung gian kết nối, vừa xử lý dữ liệu, quảng cáo và cung cấp dịch vụ tài chính phụ trợ. Điều này khiến cách quản lý theo ngành nghề truyền thống trở nên thiếu hiệu quả.

Tranh cãi xung quanh việc định danh Uber, Grab là ví dụ điển hình. Nếu các mô hình mới bị buộc phải “mặc” chiếc áo pháp lý cũ không còn phù hợp, doanh nghiệp sẽ hoặc bị kìm hãm phát triển, hoặc phải hoạt động trong vùng xám pháp lý.

Điểm nghẽn thứ ba là cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) còn hẹp và phân tán.

Việc ban hành Nghị định 94/2025/NĐ-CP về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng được đánh giá là bước tiến quan trọng. Tuy nhiên, sandbox hiện mới chủ yếu tồn tại theo từng lĩnh vực riêng lẻ, chưa trở thành phương thức quản trị phổ quát cho đổi mới sáng tạo.

Theo ông Ngô Vĩnh Bạch Dương, nếu mỗi ngành tự xây dựng một sandbox riêng, quá trình thử nghiệm sẽ chậm và dễ phát sinh cơ chế xin - cho. Điều cần thiết là một khung nguyên tắc chung để các bộ, ngành có thể triển khai thử nghiệm trên nền tảng thống nhất về điều kiện tham gia, phạm vi thử nghiệm, nghĩa vụ báo cáo và tiêu chí đánh giá.

Điểm nghẽn thứ tư nằm ở việc thiếu cơ chế định hướng dòng vốn vào lực lượng sản xuất mới.

Theo nghiên cứu, cải cách thủ tục hay cắt giảm điều kiện kinh doanh là cần thiết nhưng chưa đủ. Vấn đề quan trọng hơn là sau khi được khơi thông, nguồn lực xã hội sẽ chảy vào đâu.

Nếu vốn tiếp tục đổ mạnh vào đầu cơ tài sản thay vì nghiên cứu phát triển công nghệ, thương mại hóa sáng chế hay phát triển nhân lực chất lượng cao, nền kinh tế khó tạo ra năng lực sản xuất mới thực chất.

Để minh họa cho nguy cơ dòng vốn lệch hướng, ông Ngô Vĩnh Bạch Dương dẫn lại bài học từ Nhật Bản cuối thập niên 1980. Theo đó, sự suy yếu của nhiều tập đoàn công nghệ Nhật Bản không xuất phát từ thiếu năng lực kỹ thuật, mà do dòng vốn xã hội bị hút mạnh vào bong bóng bất động sản. Khi giá đất tăng phi mã, chi phí cơ hội cho đầu tư nghiên cứu và phát triển trở nên quá lớn. Điều này khiến Nhật Bản chậm nhịp trong một số làn sóng công nghệ mới như phần mềm và Internet.

Nghiên cứu cũng nhắc tới trường hợp Songdo của Hàn Quốc, nơi tham vọng xây dựng thành phố thông minh từng bị lấn át bởi logic phát triển bất động sản cao cấp.

Đây cũng là lý do nghiên cứu đề xuất cần phát triển các mô hình nhà ở cho thuê dài hạn tại khu công nghệ cao, trung tâm đổi mới sáng tạo và các đại học nghiên cứu. Cách làm này có thể giúp giảm áp lực sở hữu nhà ở, giảm chi phí sinh hoạt ban đầu và tạo điều kiện để người lao động tập trung nhiều hơn cho học tập, nghiên cứu và khởi nghiệp.

Chuyển từ “cấm - cho phép” sang “thử nghiệm - học hỏi”

Từ các điểm nghẽn nêu trên, nghiên cứu ông Ngô Vĩnh Bạch Dương đề xuất ba định hướng lớn để hoàn thiện khung pháp lý thích ứng.

Thứ nhất là phát triển cơ chế thử nghiệm có kiểm soát thành một phương thức quản trị phổ quát cho đổi mới sáng tạo.

Theo đó, sandbox không nên bị hiểu là “nới lỏng quản lý”, mà là cơ chế cho phép thử nghiệm trong giới hạn rõ ràng về phạm vi, thời gian, quy mô và trách nhiệm pháp lý.

Về lâu dài, Việt Nam có thể nghiên cứu ban hành một nghị định khung hoặc quy định mang tính nguyên tắc chung về sandbox. Văn bản này không cần điều chỉnh chi tiết từng công nghệ, nhưng cần xác lập các tiêu chí chung về lựa chọn mô hình thử nghiệm, bảo vệ người dùng, xử lý rủi ro và đánh giá hiệu quả.

Thứ hai là hoàn thiện cơ sở pháp lý cho dữ liệu và tài sản mới.

Theo nghiên cứu, nếu dữ liệu và tài sản vô hình đang trở thành tư liệu sản xuất mới thì pháp luật cũng phải có năng lực định danh và bảo vệ các nguồn lực này. Việt Nam cần nghiên cứu xây dựng chế định pháp lý đầy đủ hơn về dữ liệu, phân biệt rõ dữ liệu cá nhân, dữ liệu mở, dữ liệu doanh nghiệp hay dữ liệu chiến lược.

Đối với tài sản số, ông Ngô Vĩnh Bạch Dương cho rằng cần thận trọng nhưng không thể kéo dài tình trạng mơ hồ pháp lý. Điều quan trọng là phải phân loại rõ đâu là phương tiện thanh toán, đâu là công cụ đầu tư, đâu là tài sản vô hình hợp pháp và đâu là loại hình cần kiểm soát chặt chẽ do rủi ro rửa tiền hay đầu cơ.

Thứ ba là chuyển từ quản lý theo hình thức pháp lý sang quản lý theo bản chất hoạt động và mức độ rủi ro.

Theo đó, thay vì chỉ hỏi doanh nghiệp thuộc loại hình nào, cơ quan quản lý cần tập trung vào việc doanh nghiệp đang thực hiện hoạt động gì, tạo ra rủi ro gì và tác động đến ai.

Một nền tảng số có thể cùng lúc chịu sự điều chỉnh của pháp luật về cạnh tranh, dữ liệu, bảo vệ người tiêu dùng, thuế và giao dịch điện tử. Tuy nhiên, mức độ nghĩa vụ pháp lý cần được xác định dựa trên quy mô và mức độ rủi ro thực tế, thay vì chỉ dựa trên tên gọi pháp lý.

Nghiên cứu cũng nhấn mạnh yêu cầu tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình đối với các hệ thống tự động, nhất là khi thuật toán có thể ảnh hưởng tới tín dụng, tuyển dụng, giá dịch vụ hoặc phân phối cơ hội kinh tế.

Theo ông Ngô Vĩnh Bạch Dương, thành công của một khung pháp lý thích ứng không nằm ở số lượng điều luật mới được ban hành, mà ở khả năng tạo ra không gian an toàn để những mô hình chưa từng tồn tại có thể được thử nghiệm, phát triển và quản trị rủi ro hiệu quả.

Điều đó đòi hỏi pháp luật phải có năng lực học hỏi và sửa đổi đủ nhanh; cơ quan quản lý phải có tư duy thích ứng; đồng thời nguồn lực xã hội phải được dẫn dắt vào tri thức, công nghệ và năng lực sản xuất thực thay vì các vòng xoáy đầu cơ ngắn hạn.

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu phát triển kinh tế số, kinh tế tri thức và hình thành lực lượng sản xuất mới, yêu cầu xây dựng một khung pháp lý thích ứng đang trở thành vấn đề không chỉ của riêng lĩnh vực pháp luật, mà là điều kiện nền tảng cho năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn phát triển tiếp theo.

XM/Báo Tin tức và Dân tộc