08:21 21/08/2026

Gỡ điểm nghẽn cho xuất khẩu nông sản - Bài cuối: Đồng hành cùng doanh nghiệp

Sau khi những điểm nghẽn về logistics, dòng vốn, mã số vùng trồng và cơ chế phát triển nuôi biển được nhận diện, yêu cầu đặt ra là tổ chức thực hiện hiệu quả các giải pháp đã được ban hành. Từ chỉ đạo của Trung ương đến việc cụ thể hóa tại địa phương, nhiều cơ chế đang được hoàn thiện nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh và hướng tới mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt trên 74 tỷ USD trong năm 2026.

Chú thích ảnh
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đối thoại với các hiệp hội ngành hàng về giải pháp thúc đẩy sản xuất, tiêu thụ nông, lâm, thủy sản 6 tháng cuối năm 2026.

Hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả quản lý

Những khó khăn về chi phí logistics, dòng vốn, quản lý mã số vùng trồng hay cơ chế phát triển nuôi biển đều liên quan đến thể chế và tổ chức thực hiện. Vì vậy, cùng với việc tháo gỡ từng điểm nghẽn cụ thể, Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) đang tập trung hoàn thiện chính sách, cải cách thủ tục hành chính và nâng cao hiệu quả phối hợp với doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng.

Nhằm kịp thời xử lý khó khăn phát sinh, ông Trịnh Việt Hùng, Bộ trưởng Bộ NN&MT yêu cầu các đơn vị chuyên môn thiết lập cơ chế theo dõi, phân loại và xử lý kiến nghị của doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng. Theo đó, trong thời hạn 5 ngày kể từ khi tiếp nhận, các đơn vị phải có văn bản trả lời hoặc hướng dẫn giải quyết đối với từng nhóm kiến nghị thuộc phạm vi quản lý.

Theo Bộ trưởng, việc tiếp nhận và xử lý kịp thời những khó khăn phát sinh không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh mà còn góp phần hoàn thiện chính sách, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.

Cùng với cải cách quy trình xử lý kiến nghị, Bộ NN&MT đang rà soát, hoàn thiện các quy định liên quan đến hoạt động xuất khẩu nông sản. Theo thông tin từ Bộ, nghị định quy định về quản lý mã số vùng trồng (MSVT) và mã số cơ sở đóng gói (MSCSĐG) có hiệu lực từ ngày 1/8/2026, tạo cơ sở pháp lý thống nhất trong công tác cấp và quản lý mã số phục vụ xuất khẩu.

Bộ cũng đang tiếp tục sửa đổi Nghị định số 15/2018/NĐ-CP theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý an toàn thực phẩm và đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu.

Một nội dung khác được Bộ NN&MT triển khai là đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý chuỗi cung ứng nông sản. Theo ông Nguyễn Hoàng Hiệp, Thứ trưởng Bộ NN&MT, Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản quốc gia đã chính thức vận hành từ ngày 11/7/2026, góp phần chuẩn hóa dữ liệu truy xuất nguồn gốc, hỗ trợ công tác quản lý và tạo điều kiện để doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu minh bạch thông tin của thị trường quốc tế.

Những giải pháp về thể chế, thủ tục hành chính và chuyển đổi số đang được triển khai nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sản xuất, chế biến và xuất khẩu. Tuy nhiên, hiệu quả chính sách còn phụ thuộc lớn vào quá trình tổ chức thực hiện tại địa phương.

Chú thích ảnh
Bộ trưởng Bộ NN&MT Trịnh Việt Hùng phát biểu tại Hội nghị đối thoại với các hiệp hội ngành hàng về giải pháp thúc đẩy sản xuất, tiêu thụ nông, lâm, thủy sản 6 tháng cuối năm 2026.

Địa phương cụ thể hóa, doanh nghiệp chủ động

Nếu việc hoàn thiện thể chế ở Trung ương tạo hành lang pháp lý thì quá trình hướng dẫn và tổ chức thực hiện tại địa phương có vai trò trực tiếp trong tháo gỡ những vướng mắc phát sinh trong thực tế sản xuất, thu mua và xuất khẩu.

Một trong những vấn đề được doanh nghiệp phản ánh là thủ tục chứng minh nguồn gốc nông sản phục vụ hoàn thuế và xuất khẩu. Bà Hoàng Thị Liên, Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu và Cây gia vị Việt Nam (VPSA) cho biết, trong quá trình thu mua nguyên liệu trực tiếp từ nông dân, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn khi người bán không ký xác nhận vào bảng kê thu mua, trong khi chính quyền cơ sở cũng không xác nhận các chứng từ này.

Trước kiến nghị của doanh nghiệp, ông Ngô Công Thức, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang cho biết, địa phương đã có văn bản hướng dẫn cụ thể việc lập hồ sơ thu mua nông sản theo quy định hiện hành.

Theo đó, đối với nông sản thu mua trực tiếp từ người sản xuất không có hóa đơn, doanh nghiệp được lập bảng kê thu mua hàng hóa theo Mẫu số 02/TNDN ban hành kèm theo Thông tư số 20/2026/TT-BTC và Nghị định số 320/2025/NĐ-CP. Văn bản của tỉnh cũng khẳng định pháp luật hiện hành không quy định người bán phải ký vào bảng kê, đồng thời không bắt buộc Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận đối với chứng từ này.

Doanh nghiệp thực hiện đúng quy định về kê khai và chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin; đồng thời bảo đảm thanh toán không dùng tiền mặt đối với các giao dịch trong ngày của từng hộ, cá nhân có giá trị từ 5 triệu đồng trở lên theo quy định.

Việc có hướng dẫn thống nhất từ địa phương giúp doanh nghiệp giảm vướng mắc trong quá trình thu mua nguyên liệu, nhất là vào thời điểm chính vụ. Tại các địa phương ven biển, những vấn đề liên quan đến phát triển nuôi biển và nguồn nguyên liệu thủy sản cũng đang được tập trung tháo gỡ.

Chú thích ảnh
Chuyển đổi số và truy xuất nguồn gốc đang trở thành công cụ quan trọng giúp nâng cao hiệu quả quản lý và đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu.

Ông Phạm Văn Mười, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau cho biết, địa phương đang rà soát các thủ tục hành chính, đồng thời từng bước định hướng chuyển đổi các mô hình nuôi lồng bè truyền thống sang lồng nhựa HDPE (nhựa polyethylene mật độ cao) và công nghệ nuôi tuần hoàn tại khu vực Hòn Chuối, Hòn Đá Bạc.

Đối với việc cấp Giấy chứng nhận nguyên liệu thủy sản khai thác (Catch Certificate - C/C) cho nhóm tàu cá có chiều dài dưới 6m, địa phương hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện theo khoản 2 Điều 12 Thông tư số 81/2025/TT-BNNMT, qua đó tạo điều kiện để nguồn nguyên liệu đáp ứng yêu cầu, đưa vào chế biến và xuất khẩu.

Liên quan đến phát triển nuôi biển, bà Trần Thị Bé Bảy, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp cho biết, địa phương đã có văn bản hướng dẫn thực hiện thủ tục giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản với thời hạn lên đến 50 năm trên cơ sở Luật số 146/2025/QH15, Nghị định số 11/2021/NĐ-CP, Nghị định số 65/2025/NĐ-CP và Nghị định số 44/2026/NĐ-CP.

Việc hướng dẫn cụ thể quy trình, điều kiện thực hiện được kỳ vọng tạo cơ sở pháp lý ổn định, giúp doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào các mô hình nuôi biển quy mô lớn.

Trong khi đó, tại Lâm Đồng, yêu cầu về quản lý vùng trồng gắn với các tiêu chuẩn của thị trường xuất khẩu đang được địa phương cụ thể hóa bằng giải pháp số hóa dữ liệu. Ông Vũ Đình Cường, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng cho biết, địa phương đang đẩy mạnh số hóa bản đồ vùng trồng gắn với quy hoạch sử dụng đất nhằm đáp ứng yêu cầu của Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR).

Theo đó, các diện tích không phù hợp quy hoạch hoặc vi phạm quy định về sử dụng đất sẽ không được cấp MSVT; địa phương đồng thời tiếp tục kiểm soát việc mở rộng diện tích sản xuất tại những khu vực có nguy cơ ảnh hưởng đến tài nguyên rừng và môi trường.

Chú thích ảnh
Doanh nghiệp đầu tư công nghệ, nâng cao năng lực quản trị và kiểm soát chất lượng nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.

Từ thực tiễn tại các địa phương cho thấy, việc tháo gỡ điểm nghẽn không chỉ nằm ở sửa đổi chính sách mà còn ở khâu hướng dẫn, phối hợp và tổ chức thực hiện. Khi quy định được triển khai thống nhất, doanh nghiệp sẽ có điều kiện thuận lợi hơn để tổ chức sản xuất, thu mua nguyên liệu và đáp ứng yêu cầu của thị trường.

Cùng với vai trò kiến tạo của nhà nước, năng lực nội tại của doanh nghiệp là yếu tố quyết định chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản trong chuỗi giá trị. Theo Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng, cơ quan quản lý nhà nước cần tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, thay đổi tư duy quản lý và tăng cường đồng hành với doanh nghiệp; trong khi doanh nghiệp phải chủ động liên kết dài hạn với hợp tác xã, vùng nguyên liệu, nâng cao năng lực quản trị, kiểm soát chất lượng và tuân thủ các yêu cầu của thị trường.

Nhà nước sẽ đồng hành trong tháo gỡ thể chế, mở cửa thị trường và cung cấp thông tin, nhưng doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về quản trị chất lượng, tổ chức chuỗi và thực hiện các cam kết trong sản xuất, kinh doanh.

Đây cũng là yêu cầu được thể hiện qua các kiến nghị của các hiệp hội ngành hàng trong quá trình đối thoại với cơ quan quản lý. Việc tháo gỡ thủ tục chỉ tạo điều kiện; để duy trì thị trường xuất khẩu, doanh nghiệp vẫn phải kiểm soát chặt vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc, chất lượng sản phẩm và tuân thủ các tiêu chuẩn của từng thị trường.

Những giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn

Từ hoàn thiện thể chế đến tổ chức thực hiện, các giải pháp đang được triển khai nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam.
Xử lý kiến nghị doanh nghiệp trong 5 ngày
Hoàn thiện quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói
Sửa đổi Nghị định 15/2018/NĐ-CP
Vận hành hệ thống truy xuất nguồn gốc quốc gia
Đẩy mạnh chuyển đổi số
Đơn giản hóa thủ tục giao khu vực biển
Tăng cường đối thoại với doanh nghiệp

Bên cạnh mục tiêu xuất khẩu, chất lượng nông sản phục vụ thị trường trong nước cũng được Bộ NN&MT xác định là nhiệm vụ xuyên suốt. Theo Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng, sản phẩm nông nghiệp trước hết phải đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng trong nước; đây đồng thời là trách nhiệm của cơ quan quản lý và doanh nghiệp trong quá trình xây dựng thương hiệu, nâng cao chất lượng sản phẩm.

Từ thực tế triển khai cho thấy, tháo gỡ điểm nghẽn cho nông sản Việt Nam không chỉ nằm ở việc hoàn thiện chính sách mà còn ở hiệu quả tổ chức thực hiện, sự phối hợp giữa các cấp, ngành và tính chủ động của doanh nghiệp.

Đây là nền tảng để ngành nông nghiệp duy trì đà tăng trưởng, nâng cao giá trị nông sản và hướng tới mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt trên 74 tỷ USD trong năm 2026.

Bài, ảnh: Lưu Niệm/Báo Tin tức và Dân tộc