Hồng Dân là một trong những xã, phường của tỉnh Cà Mau có nhiều làng nghề truyền thống.
Một trong những công đoạn rèn dao.
Trải qua bao thăng trầm, đối mặt sự cạnh tranh của sản phẩm hiện đại, các làng nghề tưởng sẽ dần mai một, không còn đủ sức tồn tại, nhưng với tấm lòng thủy chung, tâm huyết của người dân, nhiều nghề truyền thống hàng trăm năm tuổi vẫn được lưu giữ.
Ấp Thống Nhất là địa bàn tập trung nhiều làng nghề nhất của xã Hồng Dân, trong đó nổi bật hơn cả là nghề rèn với thương hiệu dao Ngan Dừa. Theo các tài liệu khảo cứu, nghề rèn nơi đây phát triển mạnh từ những năm đầu thế kỷ XX, sớm tạo dựng danh tiếng rộng khắp Nam Kỳ lục tỉnh. Ngày nay, dù trên thị trường có nhiều loại dao hiện đại, nhưng nhiều gia đình vẫn dùng dao Ngan Dừa, bởi độ bền, độ bén không chê vào đâu được.
Anh Quách Văn Nguyên (lò rèn Tư Hây), đời thứ tư trong gia đình gắn bó với nghề rèn dao chia sẻ: Dao Ngan Dừa bén (sắc) là do bí quyết trong quá trình cặp thép. Từ một thỏi sắt thô sơ, để tạo nên công cụ lao động sắc bén hay con dao quen thuộc trong gian bếp mỗi gia đình, người thợ phải trải qua nhiều công đoạn công phu, đòi hỏi sự tỉ mỉ và kinh nghiệm tích lũy qua năm tháng. Tiếng đe vang, tiếng búa nhịp nhàng bên những lò rèn đỏ lửa có thể xa lạ với nhiều người, nhưng với các nghệ nhân và những gia đình gắn bó cùng nghề, đó là niềm vui, nỗi nhớ, là ký ức và niềm tự hào.
Anh Quách Văn Nguyên (lò rèn Tư Hây), ấp Thống Nhất, xã Hồng Dân, tỉnh Cà Mau là đời thứ 4 của gia đình làm nghề rèn dao.
Không chỉ có nghề rèn, ấp Thống Nhất, xã Hồng Dân còn được biết đến với nghề làm bánh tằm Ngan Dừa, món ăn dân dã mà khó quên. Để làm được bánh tằm, các nghệ nhân phải dùng đúng gạo Một bụi đỏ của Hồng Dân. Gạo và nếp xay lên theo tỷ lệ nhất định, các công đoạn hấp, se cho đến giũ bột vào nước cốt dừa đều làm thủ công và phải có bí quyết. Đặc biệt, ở công đoạn se bánh, nghệ nhân phải dùng tay bắt từng sợi bột, tạo hình như những con tằm nhỏ. Chính sự tỉ mỉ ấy đã làm nên nét đặc trưng cho bánh tằm Ngan Dừa – mộc mạc nhưng tinh tế, đậm đà hương vị quê nhà.
Chị Nguyễn Thị Hiền, nghệ nhân se bánh lâu năm chia sẻ rằng ở xóm chị, các bé gái từ nhỏ đã được học cách se bánh tằm. Hầu hết các gia đình trong xóm đều gắn bó với nghề, vì thế nơi đây còn được gọi vui là “xóm bánh tằm”.
Qua nhiều thăng trầm, nhưng người dân xã Hồng Dân, tỉnh Cà Mau vẫn bám trụ với nghề dệt chiếu.
Bên cạnh đó, ấp Thống Nhất còn duy trì nghề dệt chiếu truyền thống. Bà Nguyễn Thị Năm (85 tuổi) cho biết không nhớ chính xác làng nghề dệt chiếu có từ bao giờ, chỉ biết rằng từ thuở nhỏ bà đã thấy mẹ mình ngồi bên khung dệt. Để làm ra một chiếc chiếu, người thợ phải trải qua nhiều công đoạn đòi hỏi sự tỉ mẩn và nhẫn nại. Trước hết là chẻ lác - công đoạn đòi hỏi sự khéo léo vì cọng lác mềm, yếu, rất khó chẻ nhỏ ra làm nhiều sợi. Chỉ với một con dao nhỏ, qua đôi tay khéo léo của người thợ, một cọng lác có thể được chẻ thành 5 - 6 sợi đều tăm tắp. Lác sau đó được phơi khô, nhuộm màu tùy theo nhu cầu chiếu trắng hay chiếu màu. Công đoạn cuối cùng và quan trọng nhất là dệt chiếu, thường cần hai người phối hợp nhịp nhàng: một người chuồi, sắp xếp từng sợi lác theo màu vào go; người còn lại thoăn thoắt dập, úp, ngửa thân go, xoay trái, xoay phải bẻ bìa để các sợi lác khít chặt vào nhau, tạo nên tấm chiếu bền chắc, đẹp mắt.
Chị Trương Thị Tám, nghệ nhân diệt chiếu lâu năm cho biết, một ngày hai người thợ có thể dệt được 4 đến 5 đôi chiếu chợ (chiếu hàng) hoặc 2 đôi chiếu đặt (loại dược làm theo yêu cầu, có chất lượng tốt, dày dặn hơn). Tuy nhiên, khó và kỳ công nhất là dệt chiếu bông có chữ “Trăm năm hạnh phúc”, “Vu quy” hay chữ “Song hỷ” dành cho các cặp vợ chồng mới cưới khi phải mất 2 - 3 ngày mới dệt được một đôi. Thực tế, sản phẩm chiếu Ngan Dừa đang ngày càng đa dạng về kiểu dáng, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng với giá cả hợp lý: Chiếu thường từ 150.000 - 200.000 đồng/đôi, chiếu chữ từ 400.000 - 500.000/đôi. Sau khi trừ chi phí nguyên liệu, màu nhuộm…, thu nhập bình quân của mỗi người thợ đạt khoảng 150.000 - 200.000 đồng/ngày, góp phần ổn định đời sống cho nhiều hộ gia đình.
Tại xã Hồng Dân, nếu ấp Thống Nhất tập trung nhiều làng nghề và nổi tiếng với nghề rèn, dệt chiếu..., thì ấp Xẻo Quao lại được biết đến với nghề làm bánh tráng, đan đát (đan lát) lục bình thành các mặt hàng thủ công mỹ nghệ. Trong khi đó, ấp Bà Hiên, Bà Gồng là hai ấp có đông bà con dân tộc Khmer sinh sống, vẫn lưu giữ nghề làm bún truyền thống và chế biến mắm cá trắm cỏ - món mắm “độc nhất vô nhị” của địa phương.
Cá trắm cỏ vốn nhiều xương nhưng nhờ bí quyết trộn và ủ mắm riêng, phần xương mắm trở nên giòn tan, thịt cá béo mà không ngấy, mang hương vị đặc trưng của đồng đất nên khó lẫn với các loại mắm khác. Khi chế biến, mắm thường được chưng cách thủy cùng thịt ba chỉ, tóp mỡ, gừng, củ hành đỏ, ớt xanh, tiêu, tỏi trắng… ăn kèm các loại rau đồng; ngoài ra còn có thể chiên hoặc tái chanh, dùng với cà tím, chuối chát, khế chua – tạo nên hương vị đậm đà, dân dã mà khó quên.
Hồng Dân là một vùng đất nằm quanh co uốn lượn theo các dòng sông, có nhiều làng nghề truyền thống trăm năm của tỉnh Cà Mau.
Ông Nguyễn Nhân Đức, chủ tịch UBND xã Hồng Dân chia sẻ: Hồng Dân là một vùng đất nằm quanh co uốn lượn theo các dòng sông, tập trung văn hóa của ba dân tộc Kinh – Hoa – Khmer, giao thoa với nhau từ thời đi mở cõi, lập ấp. Người Hồng Dân tự hào dù chỉ là một vùng quê nhỏ mà tập trung hàng chục làng nghề truyền thống có tuổi đời cả trăm năm. Xã có gần 300 hộ duy trì các nghề truyền thống như rèn, dệt chiếu, làm mộc, làm bánh tằm..., giải quyết việc làm cho khoảng gần 1.500 lao động. Nghề truyền thống tuy cho thu nhập không cao để người dân có thể làm giàu, nhưng là công việc ổn định, giúp nuôi sống các gia đình qua nhiều thế hệ, nuôi dạy nhiều lớp trẻ trưởng thành, có nghề nghiệp, cuộc sống vững chãi.
Để nâng cao hiệu quả hoạt động của các làng nghề, thời gian tới, xã sẽ tiếp tục hỗ trợ người dân tiếp cận nguồn vốn vay, đầu tư đổi mới trang thiết bị, máy móc; tạo điều kiện nâng cao tay nghề, cải tiến mẫu mã nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm. Cùng với đó, xã sẽ hỗ trợ công tác quảng bá, giới thiệu sản phẩm làng nghề một cách hiệu quả, từng bước xây dựng và khẳng định thương hiệu, gia tăng giá trị trên thị trường.
Nghề đan đát tuy cho thu nhập không cao để người dân có thể làm giàu, nhưng là công việc ổn định, giúp nuôi sống nhiều gia đình.
Đến với các làng nghề truyền thống ở Hồng Dân, dễ dàng cảm nhận tình yêu sâu nặng, gắn bó mà người dân dành cho nghề. Để giữ và phát triển nghề truyền thống, nhiều nghệ nhân đang thay đổi để hòa nhập thời đại. Họ không chỉ chú trọng tiêu thụ sản phẩm tại chỗ mà mang đi giới thiệu sản phẩm với khách hàng tại các hội chợ, triển lãm trong và ngoài tỉnh. Thậm chí, nhiều gia đình đã tận dụng mạng xã hội để quảng bá, kết nối khách hàng, mở rộng đầu ra cho sản phẩm. Chính sự năng động ấy đã và đang góp phần “giữ lửa” cho những làng nghề trăm năm tuổi, truyền lại cho thế hệ sau niềm tự hào và trách nhiệm tiếp nối, bảo tồn nghề truyền thống của gia đình và quê hương.