Trước bối cảnh chi phí vật tư nông nghiệp tăng cao và thị trường ngày càng ưu tiên sử dụng nông sản an toàn, nhiều nông dân ở Vĩnh Long đã chủ động chuyển đổi sang sản xuất theo hướng hữu cơ.
Cách làm này không chỉ giúp giảm chi phí đầu vào, nâng cao giá trị nông sản mà còn từng bước thay đổi tập quán canh tác, hướng đến nền nông nghiệp xanh, bền vững.
Hiệu quả từ sản xuất hữu cơ
Vườn bưởi da xanh trồng theo hướng hữu cơ của gia đình ông Hồ Văn Rê, xã An Trường, tỉnh Vĩnh Long mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Tại xã An Trường, mô hình trồng bưởi da xanh theo hướng hữu cơ của gia đình ông Hồ Văn Rê là một ví dụ tiêu biểu cho hướng đi này. Trước đây, gia đình ông Rê canh tác 0,6 ha cam sành theo phương thức truyền thống. Dù có thời điểm mang lại thu nhập khá, nhưng giá cả bấp bênh, chi phí đầu vào cao, trong khi đất đai dần suy giảm độ màu mỡ, hiệu quả sản xuất dần thiếu ổn định. Từ thực tế đó, ông quyết định chuyển đổi 0,2 ha sang trồng bưởi da xanh, đồng thời tìm hướng canh tác bền vững hơn.
Ông Rê tận dụng phụ phẩm nông nghiệp như phân chuồng, lá cây để nuôi trùn quế, tạo nguồn phân hữu cơ trùn quế tại chỗ. Nguồn phân này giúp cải thiện độ tơi xốp, tăng khả năng giữ ẩm và bổ sung dinh dưỡng tự nhiên cho đất. Nhờ đó, vườn bưởi phát triển ổn định, cây sinh trưởng tốt, bộ rễ khỏe, giảm sâu bệnh, hạn chế sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật.
Sau thời gian áp dụng hiệu quả, ông Rê chuyển toàn bộ diện tích còn lại sang canh tác hữu cơ. Vườn bưởi cho trái đều, mẫu mã đẹp, vị ngọt thanh, được thương lái thu mua với giá ổn định. Với diện tích trồng bưởi da xanh theo hướng hữu cơ trên, mỗi năm gia đình ông thu lợi nhuận khoảng 120 triệu đồng, cao hơn nhiều so với trước. Quan trọng hơn, mô hình giúp cải tạo đất, giảm khoảng 50% chi phí đầu vào và nâng cao chất lượng nông sản.
Theo ông Rê, canh tác hữu cơ bằng phân trùn quế không chỉ giúp nâng cao chất lượng trái mà còn duy trì độ bền của vườn cây, kéo dài tuổi thọ cây trồng so với phương thức sử dụng phân bón hóa học trước đây. Dù đòi hỏi nhiều công chăm sóc hơn, nhưng sản phẩm làm ra an toàn, đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng.
Ông Trần Phước Triệu, ấp Phú Thọ II, xã Tiểu Cần, tỉnh Vĩnh Long sử dụng lá khô để làm phân hữu cơ.
Không chỉ với cây bưởi, sản xuất hữu cơ đang dần lan tỏa sang nhiều loại cây trồng khác trên địa bàn tỉnh. Tại ấp Phú Thọ II, xã Tiểu Cần, gia đình ông Trần Phước Triệu là một trong những hộ tiên phong chuyển đổi từ đất lúa sang trồng dừa hữu cơ. Với 0,4 ha dừa đã canh tác hơn 6 năm, vườn dừa cho sản lượng bình quân khoảng 500 quả mỗi tháng. Nhờ liên kết với hợp tác xã, sản phẩm có đầu ra ổn định, giá bán cao hơn khoảng 10% so với phương thức truyền thống. Nhận thấy hiệu quả, gia đình ông tiếp tục chuyển đổi thêm 0,2 ha đất lúa sang trồng dừa hữu cơ.
Ông Triệu cho biết, điều quan trọng nhất khi làm hữu cơ là thay đổi thói quen sản xuất. Từ chỗ phụ thuộc vào phân bón hóa học, ông chuyển sang tận dụng phân chuồng, lá khô, cỏ vườn để ủ thành phân hữu cơ. Sau khi bón, vườn được tưới nước duy trì độ ẩm giúp cây hấp thu dinh dưỡng tốt hơn.
Nhờ áp dụng cách làm này, cây dừa sinh trưởng ổn định, đất tơi xốp và duy trì độ phì nhiêu lâu dài. Không chỉ áp dụng cho gia đình, ông Triệu còn tích cực chia sẻ kinh nghiệm, hướng dẫn kỹ thuật cho nhiều hộ dân trong khu vực. Từ hiệu quả thực tế, ngày càng có nhiều nông dân thay đổi tư duy, giảm dần việc sử dụng hóa chất, chuyển sang sản xuất sạch, an toàn.
“Muốn làm hữu cơ phải kiên trì thay đổi cách làm, nhưng khi đã quen thì thấy lợi ích lâu dài, vừa giảm chi phí, vừa bảo vệ sức khỏe và môi trường. Tôi cũng vận động bà con cùng làm để tạo vùng sản xuất tập trung, thuận lợi trong liên kết tiêu thụ”, ông Triệu chia sẻ.
Hướng đến nền nông nghiệp xanh, bền vững
Ông Trần Phước Triệu, ấp Phú Thọ II, xã Tiểu Cần, tỉnh Vĩnh Long bón phân hữu cơ cho vườn dừa.
Thực tế từ các mô hình cho thấy, sản xuất hữu cơ không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế mà còn góp phần thay đổi tập quán canh tác của nông dân, hướng đến xây dựng vùng nguyên liệu sạch, nâng cao giá trị nông sản và đáp ứng nhu cầu thị trường. Đây là nền tảng quan trọng để địa phương thúc đẩy phát triển nông nghiệp xanh, thích ứng biến đổi khí hậu.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Vĩnh Long, đến nay, diện tích sản xuất hữu cơ và ứng dụng công nghệ cao của tỉnh đạt hơn 73.600 ha. Trong đó, diện tích sản xuất theo các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP và hữu cơ đạt hơn 47.040 ha.
Riêng diện tích dừa hữu cơ đạt gần 36.000 ha; đây là ngành hàng chủ lực của tỉnh, với nhiều vùng trồng đã đạt các tiêu chuẩn quốc tế, tạo thuận lợi cho xuất khẩu và nâng cao giá trị sản phẩm.
Theo định hướng phát triển giai đoạn tới, tỉnh Vĩnh Long tập trung phát triển nền nông nghiệp theo hướng xanh, sinh thái, tuần hoàn và bền vững; chuyển mạnh từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang phát triển kinh tế nông nghiệp đa giá trị, gắn sản xuất với chế biến, thương mại và thị trường tiêu thụ. Ngành nông nghiệp đẩy mạnh phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn và ứng dụng công nghệ cao trong chuỗi sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản.
Trong đó, cây ăn trái và cây dừa tiếp tục được xác định là nhóm ngành hàng trọng điểm. Tỉnh định hướng hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn đối với các loại cây chủ lực như bưởi, sầu riêng, chôm chôm, nhãn, xoài, dừa…; khuyến khích áp dụng các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, tiến tới sản xuất hữu cơ nhằm nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của nông sản.
Theo kế hoạch đến năm 2030, diện tích cây ăn trái của tỉnh đạt 111.000 ha, diện tích dừa khoảng 132.000 ha; riêng diện tích dừa hữu cơ phấn đấu chiếm khoảng 50% tổng diện tích, gắn với doanh nghiệp thu mua, chế biến và xuất khẩu.
Cùng với mở rộng sản xuất hữu cơ, Vĩnh Long tiếp tục đẩy mạnh xây dựng mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, phát triển thương hiệu và chỉ dẫn địa lý nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu. Địa phương cũng tăng cường ứng dụng công nghệ sinh học, tự động hóa, cảm biến, thiết bị bay không người lái, Internet vạn vật và trí tuệ nhân tạo trong quản lý sản xuất và giám sát môi trường nông nghiệp. Theo Đề án chuyển đổi số ngành Nông nghiệp và Môi trường, tỉnh phấn đấu đến năm 2030 có khoảng 15-20% diện tích sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và công nghệ số.
Ngành nông nghiệp tỉnh chú trọng kiểm soát chặt việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật theo hướng tăng tỷ trọng phân hữu cơ và thuốc sinh học; khuyến khích tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp để sản xuất phân hữu cơ, phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.
Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Vĩnh Long Trần Trường Giang cho hay, trong 5 năm qua, tỉnh đã xây dựng và nhân rộng hơn 200 mô hình canh tác thông minh, nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp xanh, nông nghiệp hữu cơ và sản xuất theo các tiêu chuẩn GAP. Nhiều mô hình mang lại hiệu quả rõ rệt, góp phần thay đổi tập quán sản xuất, giảm chi phí đầu vào, nâng cao giá trị nông sản và tăng thu nhập cho người dân.
Thời gian tới, ngành nông nghiệp tỉnh tiếp tục hỗ trợ nông dân mở rộng sản xuất hữu cơ, tăng cường sử dụng phân hữu cơ, chế phẩm sinh học, giảm phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật; đồng thời đẩy mạnh phát triển các mô hình kinh tế tuần hoàn, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp để tái sử dụng, giảm phát thải và bảo vệ môi trường.
Từ những mô hình thực tế cho thấy, sản xuất hữu cơ không chỉ mở ra hướng đi bền vững cho nông nghiệp địa phương mà còn từng bước thay đổi tư duy canh tác của người dân theo hướng an toàn, thân thiện môi trường. Đây được xem là nền tảng quan trọng để Vĩnh Long xây dựng nền nông nghiệp xanh, nâng cao sức cạnh tranh của nông sản và đáp ứng xu thế tiêu dùng hiện đại toàn cầu.