Dù khởi đầu muộn hơn thế giới gần nửa thế kỷ và chậm hơn các quốc gia trong khu vực khoảng 20 năm, ngành ghép tạng Việt Nam đã đạt được những bước phát triển mạnh mẽ, ghi dấu ấn rõ nét trên bản đồ y học khu vực và từng bước tiệm cận trình độ thế giới.
Từng bước ghi dấu trên bản đồ ghép tạng thế giới
Theo thống kê của Trung tâm Điều phối ghép tạng quốc gia, kể từ ca ghép thận đầu tiên được thực hiện vào năm 1992, đến nay Việt Nam đã thực hiện gần 10.000 ca ghép tạng. Đặc biệt, trong giai đoạn 2022 - 2024, trung bình mỗi năm cả nước thực hiện hơn 1.000 ca ghép tại 31 bệnh viện, đưa Việt Nam trở thành quốc gia dẫn đầu Đông Nam Á về số lượng ca ghép tạng.
Năm 2025, Việt Nam tiếp tục ghi dấu mốc mới khi lần đầu tiên thực hiện thành công ca ghép đồng thời tim - phổi.
GS.TS.BS Phạm Gia Khánh, Chủ tịch Hội Ghép tạng Việt Nam, cho biết lĩnh vực ghép tạng Việt Nam đã đạt được trình độ tiệm cận với ghép tạng thế giới.
GS.TS.BS Phạm Gia Khánh, Chủ tịch Hội Ghép tạng Việt Nam cho biết, ghép tạng Việt Nam đi sau thế giới khoảng 40 năm và chậm hơn các nước trong khu vực khoảng 20 năm. Tuy nhiên, sau hơn 34 năm phát triển, lĩnh vực này đã đạt được trình độ tiệm cận với ghép tạng thế giới.
Theo đó, hiện Việt Nam đã thực hiện ghép đầy đủ 6 loại tạng gồm: thận, gan, tim, phổi, ruột và tụy. Với các loại tạng phổ biến như thận, gan và tim, các cơ sở y tế trong nước đã làm chủ hầu hết các kỹ thuật phức tạp đang được áp dụng trên thế giới. Riêng ghép gan, một trong những phẫu thuật khó nhất Việt Nam đã triển khai thành công nhiều kỹ thuật chuyên sâu như ghép gan cho trẻ dưới 1 tuổi, người cao tuổi, ghép gan không cùng nhóm máu, ghép gan trong suy gan cấp, lấy - ghép gan bằng phẫu thuật nội soi và kỹ thuật chia gan.
Tỷ lệ sống sau ghép đạt mức cao, với khoảng 90 - 95% ở bệnh nhân ghép thận, 80 - 90% đối với ghép gan và 85 - 90% với ghép tim. Nhiều bệnh nhân ghép thận có thể mang thai, sinh con và sinh hoạt bình thường không cần lọc máu; nhiều trường hợp duy trì thận ghép từ 25 - 30 năm mới phải ghép lại. “Những kết quả này khẳng định trình độ chuyên môn và khả năng làm chủ kỹ thuật hiện đại của y học Việt Nam, mở ra cơ hội sống lâu dài và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh suy tạng giai đoạn cuối”, GS.TS.BS Phạm Gia Khánh khẳng định.
Tuy nhiên, theo PGS.TS Đồng Văn Hệ, Giám đốc Trung tâm Điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người, dù đứng đầu Đông Nam Á về số lượng ca ghép, hơn 80% số ca ghép tạng tại Việt Nam hiện vẫn dựa vào nguồn hiến từ người sống. Tạng hiến từ người chết não chỉ chiếm gần 20%, thấp hơn nhiều so với Thái Lan (khoảng 60%) hay Trung Quốc (khoảng 80%). Thực tế cho thấy, nhiều cơ sở ghép tạng có số ca thực hiện còn hạn chế không phải do năng lực chuyên môn mà chủ yếu do thiếu nguồn tạng hiến. Điều này cho thấy sự phát triển của lĩnh vực ghép tạng vẫn chưa tương xứng với hệ thống hiến tạng hiện nay.
PGS.TS Đồng Văn Hệ nhấn mạnh, kỹ thuật ghép tạng của Việt Nam đã đạt trình độ cao, song để phát triển bền vững, cần xây dựng hệ thống hiến tạng đủ mạnh với sự tham gia của toàn xã hội và tất cả các bệnh viện. Khi nguồn hiến được bảo đảm, chuyên ngành ghép tạng mới có thể cứu sống thêm nhiều người bệnh.
Các bác sĩ tri ân người chết não hiến tạng. Ảnh: BV
Cùng quan điểm, TS.BS Phạm Gia Anh, Phó Giám đốc Trung tâm Điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người cho rằng, ngành hiến - ghép tạng Việt Nam không thể tiếp tục phụ thuộc chủ yếu vào nguồn hiến từ người sống mà cần chuyển trọng tâm sang phát triển hiến tạng từ người chết não và ngừng tuần hoàn.
Theo các chuyên gia, để nâng tỷ lệ ghép tạng từ người hiến chết não, cần chuẩn hóa và nâng cao vai trò của đội ngũ vận động hiến tạng như một nghề nghiệp với khung năng lực, mô tả vị trí việc làm, lộ trình phát triển và cơ chế bảo vệ phù hợp.
Mở rộng mạng lưới ghép tạng, rút ngắn thời gian chờ đợi của người bệnh
Hiện nay, cả nước mới có 31 cơ sở đủ điều kiện thực hiện ghép tạng, chủ yếu tập trung tại các bệnh viện tuyến Trung ương và một số bệnh viện công lập lớn, chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của người bệnh suy tạng giai đoạn cuối.
Bệnh nhân chạy thận nhân tạo tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh. Ảnh: BV
Theo PGS.TS Đồng Văn Hệ, nhiều cơ sở ghép tạng đang trong tình trạng quá tải, số lượng bệnh nhân chờ ghép ngày càng tăng trong khi nguồn tạng hiến còn hạn chế. Thời gian chờ ghép có thể kéo dài nhiều năm đối với bệnh nhân chờ ghép thận, còn đối với người bệnh suy gan, suy tim, suy phổi giai đoạn cuối, việc chờ ghép thường diễn ra trong tình trạng nguy kịch. Thời gian chờ đợi kéo dài làm gia tăng nguy cơ biến chứng và tử vong, khiến không ít bệnh nhân không kịp tiếp cận cơ hội ghép tạng.
Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải mở rộng mạng lưới các cơ sở tham gia ghép tạng, đồng thời tăng cường phối hợp trong công tác điều phối, đầu tư đồng bộ về nhân lực và cơ sở vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu ghép tạng ngày càng tăng.
PGS.TS Đồng Văn Hệ cho rằng, hệ thống y tế tư nhân đang ngày càng phát triển, với lợi thế về trang thiết bị, vật tư tiêu hao và quy trình tổ chức linh hoạt, góp phần hỗ trợ và giảm tải cho các bệnh viện công lập trong lĩnh vực ghép tạng.
Theo PGS.TS Triệu Triều Dương, Giám đốc khối Ngoại, Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội, ghép tạng là một trong những định hướng phát triển chuyên môn của hệ thống trong thời gian tới. Theo lộ trình, bệnh viện dự kiến triển khai ca ghép tạng đầu tiên vào quý I năm 2026, bảo đảm tuân thủ các quy định của Bộ Y tế và pháp luật Việt Nam, đồng thời phối hợp chặt chẽ với Trung tâm Điều phối quốc gia trong toàn bộ quá trình hiến - ghép.
“Mỗi ca ghép tạng không chỉ là thành tựu y học, mà còn là sự tiếp nối sự sống từ những nghĩa cử cao đẹp. Chúng tôi mong muốn đồng hành cùng ngành y tế trong việc nâng cao nhận thức cộng đồng về hiến tạng, để ngày càng có nhiều người bệnh được trao cơ hội sống mới”, PGS.TS Triệu Triều Dương chia sẻ.
PGS.TS.BS Trần Quang Bính, Giám đốc chuyên môn Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP Hồ Chí Minh cũng cho biết, bệnh viện đã được Bộ Y tế thẩm định và sẽ được cấp phép thực hiện các kỹ thuật ghép tạng trong thời gian tới. Hiện bệnh viện đã đầu tư đồng bộ về cơ sở vật chất, hệ thống xét nghiệm và nhân lực, bảo đảm chăm sóc toàn diện cho người bệnh trước và sau ghép, đồng thời xây dựng hệ thống theo dõi lâu dài. Theo đó, trong giai đoạn đầu, bệnh viện sẽ triển khai ghép thận và nhận hỗ trợ chuyên môn từ các cơ sở giàu kinh nghiệm, đồng thời chú trọng xây dựng đội ngũ vận động hiến tạng nhằm bảo đảm nguồn mô, tạng ổn định, từng bước mở rộng sang các kỹ thuật ghép phức tạp hơn.
Lãnh đạo Hệ thống Bệnh Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh cho biết thêm, trước khi triển khai dự án hiến - ghép tạng, bệnh viện đã tham gia tiếp nhận và theo dõi trước, sau ghép cho người bệnh được chuyển đến từ nhiều cơ sở y tế. Theo đó, khác với mô hình ghép tạng chỉ tập trung vào phẫu thuật, mô hình mà Tâm Anh hướng tới là một hệ sinh thái điều trị khép kín, bao gồm chuẩn bị thể trạng trước ghép, phẫu thuật, hồi sức - chăm sóc hậu phẫu và theo dõi lâu dài sau ghép.
Theo GS.TS Phạm Gia Khánh, việc các bệnh viện ngoài công lập có tiềm lực đầu tư tham gia ghép tạng phù hợp với tinh thần Nghị định 72 và Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị, góp phần mở rộng mạng lưới ghép tạng quốc gia, giảm áp lực cho hệ thống y tế công lập, đồng thời khẳng định trình độ chuyên môn của y tế tư nhân trong chăm sóc sức khỏe nhân dân.