03:09 16/03/2026

Fed đối mặt bài toán khó khi khủng hoảng dầu mỏ quay trở lại

Cuộc khủng hoảng dầu mỏ toàn cầu tồi tệ nhất trong nhiều thập kỷ có thể trở thành vấn đề lớn đối với Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), khi các nhà hoạch định chính sách họp trong tuần này để quyết định các bước đi tiếp theo cho nền kinh tế Mỹ.

Chú thích ảnh
Trụ sở Cục Dự trữ Liên bang Mỹ tại Washington, D.C. Ảnh: THX/TTXVN

Theo kênh CNN ngày 15/3, cuộc chiến của Tổng thống Mỹ Donald Trump với Iran đã đẩy giá dầu tăng vọt. Giá dầu thô ngọt nhẹ WTI có lúc tăng lên gần mức 120 USD/thùng, đe dọa làm tăng chi phí của hầu hết mọi hàng hóa mà người Mỹ mua. Đồng thời, chi phí năng lượng cao hơn có thể gây sức ép đối với doanh nghiệp và các hộ gia đình, làm chậm hoạt động tuyển dụng và kìm hãm tăng trưởng kinh tế.

Mối đe dọa kép (gồm lạm phát cao hơn và thị trường việc làm suy yếu) đang đẩy các quan chức Fed vào tình thế tiến thoái lưỡng nan. Khó khăn này xuất hiện đúng vào lúc ông Kevin Warsh, người được Tổng thống Trump đề cử lãnh đạo Fed, đang chờ Thượng viện phê chuẩn. Đây là một thời điểm rất không thuận lợi để bất kỳ quan chức nào lập luận ủng hộ việc hạ lãi suất.

Fed chưa từng đối mặt cú sốc dầu mỏ nghiêm trọng như vậy kể từ cuộc Chiến tranh Arab - Israel năm 1973. Đây là sự kiện đã châm ngòi cho giai đoạn đình lạm tai tiếng trong thập niên đó. Tuy nhiên, nền kinh tế Mỹ hiện nay rất khác và Fed khó có khả năng phản ứng theo cách các nhà hoạch định chính sách từng làm nửa thế kỷ trước, khi việc tăng lãi suất mạnh đã đẩy nền kinh tế vào suy thoái.

So sánh các cú sốc dầu mỏ

Là quốc gia sản xuất dầu lớn nhất thế giới, Mỹ hiện phụ thuộc vào dầu thô nhập khẩu ít hơn nhiều so với thời các cuộc khủng hoảng năng lượng trước đây. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng gián đoạn thị trường năng lượng toàn cầu lần này lớn hơn.

Ông Nicholas Mulder, Giáo sư lịch sử tại Đại học Cornell, bình luận: “Tổng lượng sản xuất dầu ở Vùng Vịnh hiện bị đình trệ do cuộc chiến này lớn hơn nhiều so với khi đó. Chúng ta đang nói đến khoảng 20 triệu thùng so với khoảng 4,5 triệu thùng vào năm 1973… Vì vậy quy mô lần này thực sự lớn hơn gấp nhiều lần”.

Tháng 10/1973, Ai Cập và Syria tấn công bất ngờ Israel, khiến cuộc xung đột nhanh chóng leo thang và cuối cùng kéo Mỹ tham gia. Các thành viên Arab của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) đã cắt nguồn cung dầu cho các quốc gia phương Tây để trả đũa. Điều này gây tổn thất đáng kể cho nền kinh tế Mỹ, vốn phụ thuộc nhiều vào dầu nước ngoài vào thời điểm đó. Dưới thời Chủ tịch Fed Arthur Burns, các nhà hoạch định chính sách đã phản đối tăng lãi suất, cho rằng nhiều yếu tố đang đẩy lạm phát tăng phần lớn nằm ngoài tầm kiểm soát của chính sách tiền tệ. Dù sau đó Fed có tăng lãi suất, nhưng cơ quan này thực hiện điều đó một cách gián đoạn. Hiện nay, các nhà kinh tế cho rằng cách tiếp cận “dừng rồi lại tiếp tục” đó đã khiến lạm phát trở nên ăn sâu và hầu như không giúp củng cố tăng trưởng.

Hiện nay, Mỹ là nhà sản xuất dầu lớn nhất thế giới và nền kinh tế nước này dựa nhiều vào lĩnh vực dịch vụ, đồng nghĩa với việc không còn dễ bị tổn thương trước việc cắt giảm sản lượng dầu toàn cầu. Đồng thời, các quan chức Fed hiện tin rằng chính sách tiền tệ có vai trò quan trọng trong việc quản lý các cú sốc kinh tế.

Tuy vậy, ông Josh Freed, Phó chủ tịch cấp cao phụ trách chương trình khí hậu và năng lượng tại tổ chức Third Way, nhận định: “Hiện nay chúng ta đang ở trong tình huống các cơ sở năng lượng bị thiết bị bay không người lái và tên lửa của Iran tấn công. Đó là thiệt hại vật chất có thể mất nhiều thời gian để sửa chữa, vì vậy tình hình này có thể tồi tệ hơn lệnh cấm vận dầu mỏ của thập niên 1970. Có rất nhiều bất định xung quanh toàn bộ vấn đề này”.

Người Mỹ đang cảm nhận tác động

Người Mỹ đã bắt đầu cảm nhận áp lực khi đổ xăng và cuộc chiến Trung Đông đã bắt đầu ảnh hưởng tới kỳ vọng của người dân về hướng đi của lạm phát. Khảo sát người tiêu dùng mới nhất của Đại học Michigan công bố ngày 13/3 cho thấy tâm lý người tiêu dùng giảm 2% trong tháng này so với tháng 2, khi ngày càng nhiều người nhắc tới cuộc chiến Iran trong câu trả lời của họ.

Thị trường việc làm cũng không còn nhiều dư địa. Đầu tháng 3, Cục Thống kê Lao động Mỹ cho biết các doanh nghiệp đã cắt giảm 92.000 việc làm trong tháng 2 khi tỷ lệ thất nghiệp tăng từ 4,3% lên 4,4%. Một báo cáo khác công bố cùng ngày cho thấy số vị trí tuyển dụng tăng thêm 400.000 trong tháng 1 so với tháng 12/2025, dù số người thất nghiệp tìm việc vẫn nhiều hơn số vị trí đang tuyển.

Ông Tani Fukui, Giám đốc cấp cao phụ trách chiến lược kinh tế và thị trường tại công ty Quản lý Đầu tư MetLife, nói: “Hầu như không có nghi ngờ gì rằng cuộc chiến với Iran sẽ tạo ra tác động lạm phát. Nhưng mức độ lớn đến đâu vẫn là câu hỏi còn bỏ ngỏ”.

Đối với người Mỹ trong cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần này, câu hỏi không chỉ là giá cả sẽ tăng cao tới mức nào, mà còn là liệu Fed có thể dựa vào những bài học lịch sử để ngăn nền kinh tế rơi vào suy thoái hay không.

Thùy Dương/Báo Tin tức và Dân tộc