Nâng cao chất lượng, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh đang mở ra hướng đi mới cho nông sản Việt trong bối cảnh hội nhập sâu rộng. Tuy nhiên, để hiện thực hóa những mục tiêu đó, doanh nghiệp cần một nguồn lực tài chính đủ mạnh. Đây cũng được xem là "chìa khóa" giúp doanh nghiệp đầu tư công nghệ, phát triển chế biến sâu và nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Nông sản Việt không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn từng bước chinh phục các thị trường quốc tế, góp phần nâng cao giá trị xuất khẩu của ngành nông nghiệp.
Rào cản lớn của doanh nghiệp
Nếu bài toán chất lượng giúp nông sản Việt bước qua "cánh cửa" của thị trường quốc tế, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh tạo lợi thế cạnh tranh thì nguồn vốn lại là điều kiện để doanh nghiệp hiện thực hóa những mục tiêu đó. Tuy nhiên, trên thực tế, đây vẫn là nút thắt lớn khiến nhiều dự án đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao chưa thể triển khai đúng kế hoạch.
Ông Nguyễn Văn Nam, Giám đốc Công ty TNHH Nông sản Việt Phát cho biết, doanh nghiệp đang có nhu cầu mở rộng nhà máy chế biến, đầu tư thêm kho lạnh và dây chuyền đóng gói nhằm đáp ứng các đơn hàng xuất khẩu sang châu Âu và Nhật Bản. Tuy nhiên, quá trình tiếp cận các gói tín dụng ưu đãi vẫn gặp nhiều khó khăn khi doanh nghiệp phải hoàn thiện nhiều loại hồ sơ chứng minh năng lực tài chính, phương án sản xuất, dòng tiền cũng như các thủ tục hành chính liên quan. Điều khiến doanh nghiệp trăn trở nhất là dù khoản vay phục vụ hoàn toàn cho hoạt động sản xuất nông nghiệp nhưng vẫn phải thế chấp bằng tài sản bất động sản mới đủ điều kiện vay vốn.
Theo ông Nguyễn Văn Nam, phần lớn giá trị của doanh nghiệp hiện nằm ở vùng nguyên liệu liên kết với nông dân, hệ thống nhà xưởng, dây chuyền sản xuất, công nghệ chế biến và các hợp đồng xuất khẩu đã ký với đối tác nước ngoài. Tuy nhiên, những tài sản này chưa được xem là cơ sở quan trọng trong quá trình thẩm định tín dụng. Vì vậy, không ít doanh nghiệp có thị trường tiêu thụ ổn định, có đơn hàng dài hạn nhưng vẫn gặp khó khi cần nguồn vốn để mở rộng sản xuất.
"Nông nghiệp là lĩnh vực cần vốn đầu tư lớn nhưng chu kỳ thu hồi vốn dài. Nếu doanh nghiệp tiếp tục phải dựa chủ yếu vào tài sản bất động sản để vay vốn thì rất khó mạnh dạn đầu tư công nghệ và nâng cấp nhà máy. Chúng tôi mong các tổ chức tín dụng có cơ chế đánh giá linh hoạt hơn, xem xét hiệu quả dự án và dòng tiền thay vì chỉ tập trung vào tài sản bảo đảm", ông Nam chia sẻ.
Thực tế này cũng là tình trạng chung của nhiều doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao hiện nay. So với các ngành sản xuất khác, doanh nghiệp nông nghiệp phải đầu tư đồng thời vào vùng nguyên liệu, hệ thống tưới tự động, kho lạnh, dây chuyền chế biến, truy xuất nguồn gốc và công nghệ bảo quản sau thu hoạch. Đây đều là những khoản đầu tư lớn nhưng thời gian thu hồi vốn kéo dài, trong khi rủi ro từ biến động thời tiết, dịch bệnh và thị trường luôn hiện hữu. Chính vì vậy, nhiều doanh nghiệp dù có chiến lược phát triển rõ ràng vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn trung và dài hạn.
Đầu tư vào chất lượng, truy xuất nguồn gốc và chế biến sâu đang mở ra cơ hội để nông sản Việt vươn xa trên thị trường toàn cầu.
Ông Nguyễn Văn Hùng, Giám đốc Công ty CP Hasa Bio Food, cho biết khoảng 70% doanh thu của doanh nghiệp đến từ thị trường xuất khẩu. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng, doanh nghiệp đặt mục tiêu mở rộng nhà máy, đầu tư thêm dây chuyền chế biến và phát triển vùng nguyên liệu đạt tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, quá trình tiếp cận vốn vẫn còn nhiều trở ngại do doanh nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu về ba năm báo cáo tài chính liên tục cũng như các điều kiện bảo đảm tiền vay.
Theo ông Hùng, khoảng trống lớn nhất hiện nay nằm ở nhóm doanh nghiệp đang trong giai đoạn thương mại hóa sản phẩm. Đây là những doanh nghiệp đã có công nghệ, có thị trường, có khách hàng nhưng thiếu nguồn lực để mở rộng quy mô sản xuất. Nếu không được tiếp cận vốn đúng thời điểm, nhiều doanh nghiệp sẽ bỏ lỡ cơ hội tăng trưởng ngay khi nhu cầu của thị trường thế giới đang gia tăng.
Theo Bộ Công Thương, trong bối cảnh nông nghiệp đang chuyển mạnh sang mô hình sản xuất hiện đại, phương thức thẩm định tín dụng cũng cần thay đổi theo hướng phù hợp hơn với thực tiễn. Giá trị của doanh nghiệp hiện không chỉ nằm ở nhà xưởng hay máy móc mà còn ở công nghệ, dữ liệu sản xuất, thương hiệu, quy trình quản trị, vùng nguyên liệu đạt chuẩn và các hợp đồng xuất khẩu dài hạn. Đây là những tài sản vô hình nhưng có ý nghĩa quyết định đối với khả năng phát triển của doanh nghiệp.
Nhiều chuyên gia kinh tế cũng cho rằng, tín dụng cho nông nghiệp không nên chỉ dừng ở việc cung cấp vốn mà cần đồng hành cùng quá trình đổi mới sáng tạo. Khi doanh nghiệp đầu tư vào chế biến sâu, công nghệ bảo quản, tự động hóa hay chuyển đổi xanh, hiệu quả không chỉ thể hiện ở lợi nhuận mà còn tạo ra giá trị gia tăng cho toàn chuỗi sản xuất, nâng cao thu nhập của người nông dân và tăng sức cạnh tranh của nông sản Việt trên thị trường quốc tế. Vì vậy, việc tháo gỡ các rào cản trong tiếp cận tín dụng đang trở thành yêu cầu cấp thiết để tạo động lực cho giai đoạn phát triển mới của ngành nông nghiệp.
Đa dạng nguồn lực để nâng cao năng suất
Theo ông Văn Công Bình, Giám đốc Phát triển bền vững HDBank, các ngân hàng thương mại đang từng bước thay đổi phương thức cấp tín dụng. Thay vì chỉ đánh giá tài sản thế chấp, nhiều ngân hàng đã chuyển sang xem xét hiệu quả dự án, khả năng tiêu thụ sản phẩm, hợp đồng bao tiêu, đơn hàng xuất khẩu và năng lực quản trị của doanh nghiệp.
"Hiện nay, mô hình tài trợ theo chuỗi cung ứng và cấp tín dụng dựa trên dòng tiền đang mở ra cơ hội tiếp cận vốn cho nhiều doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao. HDBank hiện triển khai gói tín dụng 5.000 tỷ đồng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó ưu tiên các dự án nông nghiệp công nghệ cao, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững. Ngân hàng cũng nghiên cứu các hình thức hỗ trợ vốn khởi tạo như cấp hạn mức thấu chi đối với doanh nghiệp mới thành lập chưa đủ ba năm báo cáo tài chính", ông Công Bình cho biết thêm.
Bên cạnh nguồn vốn thương mại, nhiều doanh nghiệp cũng kiến nghị sớm ban hành bộ tiêu chí thống nhất về tín dụng xanh, đồng thời áp dụng mức lãi suất ưu đãi và thời hạn vay dài hơn đối với các dự án đầu tư công nghệ, năng lượng tái tạo, hệ thống xử lý nước thải và giảm phát thải carbon. Đây được xem là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư đổi mới công nghệ, đáp ứng các tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe của các thị trường xuất khẩu.
Ở góc độ quản lý, bà Trần Thị Ngọc Liên, Phó Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Khu vực 2, cho biết ngành ngân hàng đã triển khai nhiều chương trình tín dụng ưu đãi nhằm hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông sản. Nổi bật là gói tín dụng 185.000 tỷ đồng dành cho lĩnh vực lâm sản và thủy sản với mức lãi suất thấp hơn từ 1 - 2%/năm so với lãi suất thông thường; cùng với gói tín dụng 500.000 tỷ đồng dành cho các dự án hạ tầng chiến lược, điện, giao thông và công nghệ.
Các ngân hàng thương mại sẵn sàng tiếp vốn cho doanh nghiệp khi đủ yêu cầu. Ảnh: NH
Ngoài ra, Chương trình Bình ổn thị trường của TP Hồ Chí Minh cũng đang hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh lương thực, thực phẩm thiết yếu và các đơn vị trong chuỗi cung ứng với mức lãi suất ưu đãi thấp hơn từ 0,5-1,5%/năm. Theo bà Liên, bên cạnh các chương trình của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, nhiều ngân hàng thương mại cũng đang xây dựng các gói tín dụng chuyên biệt phù hợp với từng nhóm khách hàng, tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ và phát triển sản xuất theo hướng bền vững.
Ông Nguyễn Văn Được, Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh cho biết, Thành phố sẽ tiếp tục đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, chế biến và xuất khẩu nông sản, thông qua việc tháo gỡ kịp thời những khó khăn về cơ chế, chính sách và tiếp cận nguồn vốn. Thành phố sẽ phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành và các tổ chức tín dụng để cải thiện môi trường đầu tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp hiện đại, tạo điều kiện để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư công nghệ, mở rộng sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh, góp phần đưa nông sản Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu và phát triển bền vững trong giai đoạn mới.