09:22 05/09/2026

Dư địa lớn trong hợp tác nông nghiệp công nghệ cao Việt-Nga

Trong thế kỷ XXI, nông nghiệp toàn cầu đang dịch chuyển mạnh mẽ sang nền kinh tế dựa trên dữ liệu, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo (AI).

Đối với Nga, việc ứng dụng công nghệ cao trở thành đòi hỏi tất yếu để nâng cao tính tự chủ và tối ưu hóa năng suất trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt. 

Thực tiễn phát triển nông nghiệp số của Nga hiện nay đang mở ra những dư địa hợp tác chiến lược đầy triển vọng với Việt Nam, phóng viên TTXVN tại Nga đã có cuộc phỏng vấn Giáo sư, Viện sĩ Gennady Karlov - Giám đốc Viện Nghiên cứu Công nghệ Sinh học Nông nghiệp Toàn Nga (VNIISB) về vấn đề này.

Chú thích ảnh
Giáo sư, Viện sĩ Gennady Karlov, Giám đốc Viện Nghiên cứu Công nghệ Sinh học Nông nghiệp Toàn Nga (VNIISB). Ảnh: TTXVN phát

Dưới góc nhìn nghiên cứu, Giáo sư, Viện sĩ Gennady Karlov nhấn mạnh năng suất nông nghiệp công nghệ cao của Nga dựa chắc trên nền tảng sinh học. Viện VNIISB đang đi tiên phong trong việc ứng dụng kiểu hình kỹ thuật số và mạng thần kinh nhân tạo vào chọn tạo giống tăng tốc và di truyền học, tạo ra các “công nghệ lõi” độc lập cho chuỗi sản xuất.

Đánh giá về vị trí của lĩnh vực này trong quan hệ hai nước, Giáo sư Karlov khẳng định nông nghiệp công nghệ cao đã chính thức trở thành một trong những định hướng hợp tác chiến lược giữa Nga và Việt Nam, được xếp ngang hàng với các lĩnh vực mũi nhọn như tự động hóa, trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ sinh học.

Theo Giáo sư Karlov, sự hợp tác này dựa trên nền tảng cả hai nước đều là những nhà xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới và có tính chất bổ trợ lẫn nhau rất rõ nét về mặt năng lực cốt lõi, tài nguyên khoa học. Trong khi Việt Nam sở hữu kinh nghiệm phong phú về thâm canh nhiệt đới, trồng lúa và nuôi trồng thủy sản thì Nga lại có thế mạnh vượt trội về công nghệ sản xuất quy mô lớn các loại cây ngũ cốc, cây lấy dầu, năng lực thích ứng giống theo khí hậu.

Về triển vọng tương lai, Giáo sư Karlov cho biết hai nước đang tích cực thúc đẩy các nghiên cứu chung về việc canh tác các giống lúa Ấn Độ (Indica) và Nhật Bản (Japonica) tại Nga, đồng thời trao đổi khối tư liệu di truyền độc đáo để phục vụ chương trình chọn giống và nghiên cứu genomics. Hai bên cũng tập trung đầu tư vào viễn thám, AI dự báo, kiểm soát chất lượng an toàn thực phẩm và thích ứng biến đổi khí hậu. Đặc biệt, đề xuất thành lập một “Hành lang đổi mới sáng tạo Việt Nam-Nga” cho các dự án thâm dụng tri thức và các phòng thí nghiệm chung đang được kỳ vọng rất lớn. Song song đó, Viện VNIISB cùng các cơ sở uy tín như Đại học Nông nghiệp Quốc gia Nga mang tên K.A.Timiryazev đang phối hợp chặt chẽ với các đối tác Việt Nam để mở rộng đào tạo cán bộ, trao đổi sinh viên và các nhà khoa học trẻ nhằm hình thành mối quan hệ học thuật bền vững.

Chú thích ảnh
Chị Phạm Thi Thu Ba trong một giờ thí nghiệm trong phòng Lab hiện đại tại Viện công nghệ sinh học nông nghiệp - trường Đại học Nông nghiệp Quốc gia Nga mang tên K.A. Timiryazev. Ảnh: TTXVN phát

Cũng trao đổi về chủ đề trên, chị Phạm Thị Thu Ba - học viên cao học trường Đại học Nông nghiệp Quốc gia Nga mang tên K.A.Timiryazev cho biết nền tảng quan trọng hiện nay của Nga là Chiến lược phát triển tổ hợp nông-công nghiệp và thủy sản đến năm 2030, vừa được cập nhật mới đây. Nga đã chuyển hẳn từ tư duy “cơ giới hóa” sang “số hóa và tự động hóa toàn diện” nhằm xây dựng một hệ sinh thái nông nghiệp số lấy dữ liệu làm cơ sở ra quyết định. Đáng chú ý, Nga dự kiến đưa vào vận hành Nền tảng số thống nhất trước cuối năm 2026 để kết nối mọi dữ liệu về đất đai, cây trồng, vật nuôi, thời tiết, logistics và đặt mục tiêu đến năm 2030, ít nhất 80% doanh nghiệp nông nghiệp sử dụng phần mềm nội địa phục vụ các quy trình sản xuất chủ yếu.

Nhờ lợi thế những cánh đồng quy mô khổng lồ, Nga đã hiện thực hóa nông nghiệp chính xác với nhiều mô hình hiệu quả. Chị Thu Ba dẫn chứng tính đến năm 2026, Nga đã đưa vào vận hành khoảng 24.000 thiết bị nông nghiệp tự lái tích hợp AI. Điển hình như doanh nghiệp “Eniseyskoye” tại vùng Altai lập bản đồ độ phì nhiêu đất chính xác tới 0,1 hécta để tự động điều chỉnh lượng hạt gieo, giúp tiết kiệm tối thiểu 10% hạt giống. Bên cạnh đó, các tập đoàn như “Lazarevskoe” ứng dụng rộng rãi drone cất/hạ cánh thẳng đứng (VTOL) để tạo bản đồ sinh trưởng, giúp tăng năng suất từ 5-25%. Trong ngành chăn nuôi, các trang trại bò sữa tại Vologda đã áp dụng robot vắt sữa nội địa “Volshebnik”, quản lý tự động từng cá thể qua chip điện tử và đang thúc đẩy các giải pháp phần mềm nội địa như ARKA, “Moloko 2.0” nhằm giảm phụ thuộc vào công nghệ ngoại nhập.

Chú thích ảnh
Mô hình thí nghiệm cây ngũ cốc trong nhà kính tại Viện Công nghệ sinh học nông nghiệp - trường Đại học Nông nghiệp Quốc gia Nga mang tên K.A. Timiryazev. Ảnh: TTXVN phát

Dù tiềm năng và dư địa hợp tác giữa hai nước còn rất lớn, song chị Thu Ba cũng nêu ra những thách thức thực tế cần vượt qua. Đầu tiên là khoảng cách từ tiềm năng đến các dự án thực tế. Mặc dù kim ngạch thương mại nông sản song phương đã tăng gấp đôi sau 5 năm, đạt khoảng 1 tỷ USD/năm, nhưng quy mô đầu tư vào công nghệ cao vẫn chưa tương xứng.

Thách thức tiếp theo là sự khác biệt về điều kiện tự nhiên và tiêu chuẩn kỹ thuật. Hai nước cần thay đổi tư duy từ “chuyển giao một chiều” sang đồng nghiên cứu, đồng phát triển và nội địa hóa công nghệ. Cuối cùng, các vấn đề về logistics, phương thức thanh toán, hàng rào kiểm dịch, cùng yêu cầu về nguồn vốn đầu tư ban đầu lớn cũng là những bài toán đòi hỏi cơ quan quản lý hai nước cần tích cực phối hợp kỹ thuật để tháo gỡ, tạo hành lang thông thoáng cho doanh nghiệp tham gia đầu tư.

Sự kết hợp hài hòa giữa tiềm năng khoa học - công nghệ cao của Nga và năng lực canh tác thâm canh tiên tiến của Việt Nam hứa hẹn sẽ tạo nên một biểu mẫu hợp tác toàn diện, đóng góp tích cực cho nền nông nghiệp bền vững của cả hai quốc gia trong tương lai.

Trần Hải (TTXVN)