02:09 28/02/2026

Đột phá theo Nghị quyết 57: Liên kết 'ba nhà' tăng tốc phát triển công nghệ sinh học

Công nghệ sinh học không còn là một lĩnh vực khoa học thuần túy mà đang trở thành nền tảng công nghệ cốt lõi, tác động sâu rộng đến tăng trưởng kinh tế, an ninh lương thực, y tế, môi trường và quốc phòng - an ninh.

Là một trong các nhóm công nghệ chiến lược quốc gia, lĩnh vực này được xác định sẽ tạo động lực tăng trưởng mới trong giai đoạn tới. Hiện thực hóa mục tiêu đó, liên kết “ba nhà” được xem là yếu tố then chốt trong việc làm chủ công nghệ lõi, thúc đẩy chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành các sản phẩm “Make in Vietnam”.

Không bỏ lỡ nhịp với sự tăng trưởng

Chú thích ảnh
Trong tương lai, vùng trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh sẽ trở thành thủ phủ tài chính, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Ảnh: Thanh Vũ/TTXVN

Là lĩnh vực có tác động rộng lớn, công nghệ sinh học được ứng dụng ngày càng sâu rộng trong nhiều lĩnh vực như nông nghiệp, công nghiệp chế biến, y dược, bảo vệ môi trường, an ninh quốc phòng và đang mang lại những thay đổi mang tính cách mạng trong đời sống. Nhiều quốc gia phát triển đã đầu tư mạnh mẽ vào lĩnh vực này và thu được hiệu quả, lợi nhuận cao.

Nghị quyết 36-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước trong tình hình mới đặt mục tiêu đưa Việt Nam vào nhóm các quốc gia hàng đầu châu Á về công nghệ sinh học. Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tiếp tục khẳng định công nghệ sinh học là một trong những lĩnh vực được ưu tiên đầu tư. Theo Quyết định 1131/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược, Công nghệ sinh học được xác định là một trong 12 nhóm công nghệ chiến lược quốc gia.

Theo đánh giá của Vụ Khoa học kỹ thuật và công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ, với việc ban hành nhiều chủ trương, chính sách thúc đẩy phát triển và ứng dụng, lĩnh vực công nghệ sinh học Việt Nam thời gian qua đã có bước tiến quan trọng, làm chủ một số công nghệ hiện đại; ứng dụng rộng rãi trong đời sống và sản xuất, đặc biệt đóng góp tích cực trong các lĩnh vực nông nghiệp, y tế và môi trường…

Tuy nhiên, hạn chế hiện nay là chưa có kết quả đột phá trong nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng; liên kết giữa viện-trường-doanh nghiệp còn chưa hiệu quả; sản phẩm thương mại hóa còn hạn chế. 

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Mai, Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, thị trường công nghệ sinh học toàn cầu khoảng 1,8 nghìn tỷ USD và được dự báo sẽ tăng trưởng mạnh mẽ trong những năm tới, có thể đạt gấp đôi vào năm 2030. Các động lực chính bao gồm tiến bộ trong nghiên cứu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, công nghệ chỉnh sửa gen và nhu cầu ngày càng tăng đối với các giải pháp tiên tiến trong y tế, nông nghiệp và công nghiệp. Trong khi đó, quy mô thị trường tại Việt Nam hiện chỉ khoảng 1,5 tỷ USD, chiếm chưa đến 0,1% thị trường thế giới.

Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh kỳ vọng việc hợp tác "ba nhà" - một mô hình mà đơn vị đang đẩy mạnh - sẽ đạt được hiệu quả, tập trung được nguồn lực phát triển, để không bị lỡ nhịp với sự tăng trưởng thần tốc của lĩnh vực công nghệ sinh học. 

Chia sẻ về xu hướng toàn cầu trong công nghệ sinh học, Giáo sư, Tiến sĩ Henry Nguyễn, Giám đốc Trung tâm Sinh học Hoa Kỳ cho biết, trong bối cảnh các thách thức như dân số gia tăng, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và bệnh mạn tính, công nghệ sinh học đang phát triển theo các hướng chủ đạo gồm công nghệ genome và genomics; điện tử, robot và tự động hóa; công nghệ nano; tin sinh học (bioinformatics), trí tuệ nhân tạo (AI) và học máy. Những xu hướng này tạo ra tác động và ứng dụng sâu rộng trong khoa học sự sống, từ y học, thực phẩm và dinh dưỡng, nông nghiệp đến sức khỏe và phúc lợi con người.

Phù hợp với xu hướng toàn cầu, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh định hướng tái cấu trúc hoạt động nghiên cứu công nghệ sinh học ở cả 4 lĩnh vực cốt lõi. Trong đó, Y tế và sức khỏe sẽ tập trung vào y học tái tạo (tế bào gốc, exosome), vaccine thế hệ mới và y học chính xác; Nông nghiệp và sản phẩm xanh tập trung phát triển giống cây trồng thích ứng biến đổi khí hậu và chế phẩm sinh học bền vững; Môi trường và phát triển bền vững tập trung vào công nghệ Net Zero, kinh tế tuần hoàn và xử lý môi trường bằng vi sinh bản địa; Tin sinh học và trí tuệ nhân tạo tập trung xây dựng hạ tầng dữ liệu gen và ứng dụng AI trong thiết kế thuốc, vaccine.

“Ba nhà” cùng phát triển sản phẩm “Make in Vietnam”

Chú thích ảnh
Phòng thí nghiệm Công nghệ Sinh học của Trường Đại học Quốc tế, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện nhiều nghiên cứu chuyên sâu, kỹ thuật nguồn trên thế giới. Ảnh: Thanh Vũ/TTXVN

Với đội ngũ nhân lực dồi dào, hệ thống phòng thí nghiệm đạt chuẩn, số công bố quốc tế về công nghệ sinh học và các lĩnh vực liên quan đang chiếm khoảng 30% tổng số công bố quốc tế của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Cùng với sự gia tăng cả về số lượng và chất lượng công bố, nhiều công nghệ lõi đã và đang được phát triển tại đại học này; tuy nhiên, việc chuyển giao thành sản phẩm thương mại vẫn còn hạn chế. Việc tăng cường hợp tác “ba nhà” được kỳ vọng sẽ thúc đẩy chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành các sản phẩm “Make in Vietnam”.

Theo Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Huỳnh Thành Đạt, công nghệ sinh học không chỉ là một lĩnh vực khoa học và công nghệ đơn thuần mà là một “nền tảng tri thức” quan trọng, góp phần bảo đảm an ninh y tế, an ninh lương thực, an ninh môi trường và mở ra không gian tăng trưởng mới cho nền kinh tế. Theo ông, nếu chỉ dừng ở nghiên cứu mà chưa chuyển hóa thành sản phẩm, chưa hình thành năng lực sản xuất và thương mại hóa thì khó đạt được các mục tiêu lớn đã đề ra.

Giai đoạn 2026-2030 có ý nghĩa chiến lược trong phát triển công nghệ sinh học, trong chiến lược phát triển cần thiết kế chuỗi giá trị hoàn chỉnh từ nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi, phát triển sản phẩm, tổ chức thị trường đến đặt hàng nghiên cứu theo nhu cầu thực tiễn. Trọng tâm ở giai đoạn này là làm chủ một số công nghệ cốt lõi để phát triển sản phẩm “Make in Vietnam” trong các lĩnh vực có tiềm năng như y dược, nông nghiệp công nghệ cao và bảo vệ môi trường. Việc lựa chọn sản phẩm ưu tiên cần dựa trên nhu cầu xã hội, quy mô thị trường, khả năng chuẩn hóa, kiểm chứng và có sự tham gia của doanh nghiệp ngay từ đầu.

Để thực hiện được mục tiêu đó, các chuyên gia kiến nghị tháo gỡ điểm nghẽn bằng cơ chế sandbox (khung pháp lý thử nghiệm) với giải pháp như rút gọn quy trình thẩm định, cấp phép thử nghiệm lâm sàng cho sản phẩm nghiên cứu trọng điểm; xây dựng cơ chế thí điểm cho thương mại hóa sản phẩm khoa học công nghệ trong trường đại học; đầu tư hệ thống phòng thí nghiệm đạt chuẩn và trung tâm kiểm định quốc gia. 

Mặt khác, mô hình hợp tác “ba nhà” cũng cần đi vào thực chất hơn, trong đó doanh nghiệp không chỉ đặt hàng mà còn là nhà đầu tư chiến lược, đồng hành từ khâu R&D (nghiên cứu – phát triển) đến thương mại hóa. Công nghệ sinh học là một trong 5 trụ cột chiến lược trong giai đoạn phát triển mới của Tập đoàn CT Group, đặc biệt trong các lĩnh vực y sinh, nông nghiệp chính xác, năng lượng xanh và vật liệu sinh học. Theo ông Trần Kim Chung, Chủ tịch Tập đoàn CT Group, hợp tác “ba nhà” là chìa khóa để tạo bước đột phá để công nghệ sinh học Việt Nam bứt phá trong giai đoạn tới. 

CT Group và Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh hiện là đối tác chiến lược toàn diện, từ hợp tác trong nghiên cứu, phát triển sản phẩm khoa học công nghệ quốc gia và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Hai bên đồng đầu tư xây dựng các phòng thí nghiệm ứng dụng; CT Group tài trợ các dự án nghiên cứu gắn với nhu cầu thị trường, hỗ trợ vận hành mô hình pilot-scale, thử nghiệm sản phẩm nhằm đẩy nhanh quá trình thương mại hóa.

Tập đoàn cam kết tham gia góp vốn, đầu tư mạo hiểm vào các dự án tiềm năng, đồng hành lâu dài với các start-up và spin-off của giảng viên, nhà khoa học và sinh viên, góp phần xây dựng hệ sinh thái công nghệ sinh học quốc gia. Hai bên kỳ vọng với sức mạnh từ “ba nhà”, chương trình  quốc gia về phát triển công nghệ sinh học sẽ hình thành chuỗi giá trị đồng bộ, tập trung vào công nghệ lõi; tạo cơ chế đặc thù đủ mạnh để thu hút chuyên gia và doanh nghiệp, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm công nghệ sinh học mới của khu vực, ông Trần Kim Chung chia sẻ.

Thu Hoài (TTXVN)