Mối đe dọa thường xuyên được Tehran nhắc tới về việc đóng eo biển Hormuz có thể dễ phát tín hiệu hơn nhiều so với việc hiện thực hoá, vì hành động đó sẽ gây tổn hại cho đồng minh Trung Quốc nhiều hơn là cho phương Tây đối địch.
Theo kênh Iran International, đối với Iran, cái giá phải trả từ việc đóng eo biển Hormuz rất cao khi có khoảng 80% thương mại đối ngoại của nước này, cả dầu mỏ lẫn phi dầu mỏ, đều đi qua các cảng dọc theo Vịnh Ba Tư. Nói cách khác, việc đóng eo biển Hormuz không chỉ đe dọa nguồn cung năng lượng của Trung Quốc mà còn gần như làm tê liệt hoạt động thương mại đối ngoại của chính Iran.(Trong ảnh: Tàu chở hàng tại khu vực vùng Vịnh, ngoài khơi thành phố cảng Bandar Abbas của Iran. Ảnh tư liệu: AFP/TTXVN)
Hiện tại, mối đe dọa đóng eo biển Hormuz đã dịu xuống khi vào ngày 6/2, Iran và Mỹ quay trở lại bàn đàm phán thông quan trung gian Oman.
Sau đó hai hôm, Tổng thống Iran Masoud Pezeshkian mô tả các cuộc đàm phán hạt nhân giữa nước này với Mỹ là “một bước tiến” trong quan hệ song phương.
Trong bài đăng trên nền tàng mạng xã hội X, Tổng thống Pezeshkian đề cập tới các cuộc đàm phán gián tiếp giữa giới chức hai nước tại Oman hôm 6/2 và khẳng định sự kiện này có thể diễn ra là nhờ nỗ lực trung gian của một số chính phủ ở khu vực Tây Á.
Nhà lãnh đạo Iran cũng nhấn mạnh đối thoại luôn là chiến lược được nước này lựa chọn để giải quyết các vấn đề bằng biện pháp hòa bình.
Cùng ngày, theo hãng tin SNN, Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi cho rằng nước này có thể đạt được thỏa thuận hạt nhân với Mỹ, bất kể là đàm phán trực tiếp hay gián tiếp thông qua trung gian.
Tuy nhiên, ông Araghchi cũng nhấn mạnh rằng kết quả cuối cùng sẽ phụ thuộc vào cách tiếp cận của Mỹ và một thỏa thuận thực chất chỉ có thể đạt được nếu Washington thực hiện các cuộc đàm phán một cách trung thực và công bằng, dựa trên lợi ích chung và sự tôn trọng lẫn nhau.
Đây là những tín hiệu tích cực phát đi từ Tehran, nhưng kênh tin tức Iran International cho rằng bóng mây chiến tranh vẫn chưa tan.
Những tiếng nói cứng rắn và có ảnh hưởng ở cả Washington và Tehran vẫn tiếp tục thúc đẩy đường lối đối đầu, và sự hiện diện của tàu sân bay Mỹ Abraham Lincoln ở gần vùng biển Iran là lời nhắc nhở rằng căng thẳng có thể leo thang nhanh đến mức nào.
Đầu tuần này, các đơn vị thuộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) đã tiếp cận và lên kiểm tra một tàu thương mại treo cờ Mỹ tại eo biển Hormuz, trong khi vào ngày 3/2, một tiêm kích F-35 của Mỹ đã bắn hạ một thiết bị bay không người lái của Iran khi nó “hung hăng” tiếp cận nhóm tác chiến tàu sân bay.
Cùng ngày, trong bối cảnh các nỗ lực ngoại giao dồn dập trên khắp khu vực nhằm duy trì đàm phán, các nghị sĩ cứng rắn tại Tehran công khai khơi lại lời kêu gọi đóng eo biển Hormuz.
Tuy nhiên, các ràng buộc kinh tế đối với bất kỳ sự gián đoạn nghiêm trọng nào là rất lớn.
Nhân tố Trung Quốc
Theo dữ liệu từ nhà cung cấp thông tin tình báo hàng hóa Kpler mà Iran International tiếp cận được, gần 95% lượng dầu thô xuất khẩu của Iran trong năm 2025 được bốc hàng tại đảo Kharg và vận chuyển qua eo biển Hormuz, chủ yếu sang Trung Quốc.
Ước tính của Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ cho thấy khoảng 20 triệu thùng dầu thô và các sản phẩm dầu mỏ mỗi ngày, tương đương khoảng một phần năm mức tiêu thụ toàn cầu, đi qua eo biển Hormuz.
Chỉ khoảng 6% khối lượng đó được chuyển tới châu Âu và Mỹ. Các khách hàng châu Á chiếm ưu thế, hấp thụ 84% lượng dầu thô và sản phẩm dầu mỏ quá cảnh eo biển Hormuz, cũng như hơn 80% các chuyến hàng khí tự nhiên hóa lỏng.
Riêng Trung Quốc nhập khẩu khoảng 5 triệu thùng dầu mỗi ngày qua tuyến đường này. Do đó, bất kỳ sự gián đoạn kéo dài nào cũng sẽ trực tiếp giáng đòn vào an ninh năng lượng của Bắc Kinh.
Sự dễ tổn thương đó đã gia tăng trong những tháng gần đây khi xuất khẩu dầu của Venezuela sang Trung Quốc gần như bị đình trệ sau khi Mỹ tăng cường thực thi các biện pháp kiểm soát.
Venezuela xuất khẩu khoảng 850.000 thùng mỗi ngày trong tháng 1/2026, khối lượng đủ để thay thế phần lớn lượng dầu tiêu thụ tại châu Âu và Mỹ vốn đi qua eo biển Hormuz.
Vào tháng trước, hãng tin Reuters của Anh đưa tin rằng Mỹ đã giành lại vị trí là điểm đến đơn lẻ lớn nhất của dầu thô Venezuela khi tiếp nhận khoảng 284.000 thùng mỗi ngày.
Ngược lại, Trung Quốc đã lùi bước. PetroChina gần đây đã ngừng mua dầu thô Venezuela, cho thấy Bắc Kinh không còn kỳ vọng tiếp cận các nguồn cung giá rẻ từng có dưới các cơ chế thời kỳ Venezuela bị trừng phạt.
Tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân lớp Nimitz USS Abraham Lincoln (CVN 72), tàu tiếp dầu - tiếp tế hạm đội của Hải quân Hoàng gia Australia HMAS Supply (AO 195), tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường lớp Arleigh Burke USS Gridley (DDG 101) và tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường lớp Arleigh Burke USS Spruance (DDG 111) di chuyển theo đội hình cùng Nhóm tác chiến tàu sân bay Abraham Lincoln (ABECSG), các tàu của Lực lượng Phòng vệ trên biển Nhật Bản và Hải quân Hoàng gia Australia trên Thái Bình Dương, ngày 23/6/2022. Ảnh: Hải quân Mỹ.
Biên độ ngày càng thu hẹp
Khi các lệnh trừng phạt cũng làm phức tạp việc nhập khẩu từ Liên bang Nga và Iran, sự phụ thuộc của Trung Quốc vào dầu vùng Vịnh Ba Tư và vào dòng lưu thông không gián đoạn qua eo biển Hormuz được dự báo sẽ còn gia tăng.
Từ góc nhìn phương Tây, những thay đổi này đã âm thầm làm biến đổi phép tính rủi ro. Dù bất kỳ sự gián đoạn nào tại eo biển Hormuz vẫn sẽ đẩy giá dầu toàn cầu tăng cao, châu Âu và Mỹ hiện ở vị thế tốt hơn trước đây để hấp thụ các cú sốc ngắn hạn. Trung Quốc thì không.
Đối với Iran, cái giá phải trả còn cao hơn. Khoảng 80% thương mại đối ngoại của nước này, cả dầu mỏ lẫn phi dầu mỏ, đều đi qua các cảng dọc theo Vịnh Ba Tư.
Việc đóng eo biển Hormuz không chỉ đe dọa nguồn cung năng lượng của Trung Quốc mà còn gần như làm tê liệt hoạt động thương mại đối ngoại của chính Iran.
Hệ thống toàn cầu cũng có một lớp đệm nhất định. Cơ quan Năng lượng Quốc tế ước tính công suất sản xuất dự phòng toàn cầu sẽ duy trì ở mức gần 4 triệu thùng mỗi ngày cho tới năm 2026, giúp hạn chế tác động của bất kỳ sự gián đoạn tạm thời nào.
Tất cả những điều này giúp lý giải vì sao các mối đe dọa lặp đi lặp lại của Iran về việc đóng eo biển Hormuz được nêu ra nhiều lần trong hơn hai thập kỷ, nhưng chưa bao giờ được thực hiện.