04:21 17/04/2026

Doanh nghiệp logistics chuyển trọng tâm sang kết nối chuỗi vận hành

Doanh nghiệp logistics Hải Phòng đang dịch chuyển trọng tâm từ bài toán chi phí sang tốc độ, minh bạch và khả năng kết nối chuỗi vận hành.

Chú thích ảnh
Tàu container MSC KALINA cập cảng Lạch Huyện, thành phố Hải Phòng. Ảnh: TTXVN phát

Ở thời điểm này, công nghệ hiện đại và hạ tầng đồng bộ trở thành yếu tố quyết định sức cạnh tranh của thành phố cảng.

Chú trọng đến tốc độ, tính minh bạch 

Hải Phòng nổi bật với vai trò trung tâm công nghiệp, cảng biển và logistics hàng đầu cả nước, đồng thời là địa phương duy nhất ở miền Bắc sở hữu đủ 5 phương thức vận tải (đường bộ, đường sắt, đường biển, hàng không, đường thủy nội địa). Thành phố trở thành cửa ngõ giao thương của vùng Duyên hải Bắc Bộ và điểm kết nối chiến lược giữa hai hành lang kinh tế Việt Nam - Trung Quốc.

Hiện hệ thống logistics của Hải Phòng có hơn 700 ha kho bãi, tốc độ tăng trưởng 20-23%/năm, đóng góp 13-15% GRDP. Theo quy hoạch, đến năm 2030, Hải Phòng sẽ đạt 1.700-2.000 ha logistics, đưa thành phố trở thành trung tâm quốc tế gắn kết mạnh mẽ với chuỗi cung ứng toàn cầu. 

Theo báo cáo của Sở Công Thương Hải Phòng, thành phố có khoảng 250 doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ logistics, trong đó có khoảng 30 công ty, tập đoàn logistics đa quốc gia như DHL, FedEX, UPS…

Phó Tổng giám đốc Công ty cổ phần Gemadept, Chủ tịch Hiệp hội Đại lý, Môi giới và Dịch vụ Hàng hải Việt Nam Phạm Quốc Long chia sẻ, trong những năm gần đây, chuỗi cung ứng toàn cầu đang có những thay đổi sâu sắc. Các doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến chi phí, mà ngày càng chú trọng đến tốc độ, tính minh bạch, khả năng dự báo và mức độ kết nối của toàn bộ chuỗi vận hành.

Trong bối cảnh đó, công nghệ đã trở thành yếu tố mang tính quyết định. Nếu trước đây, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp logistics chủ yếu đến từ quy mô tài sản và hạ tầng, thì hiện nay, yếu tố then chốt lại là khả năng vận hành thông minh, quản trị dữ liệu và tích hợp hệ sinh thái dịch vụ.

Ông Phạm Quốc Long nhận định, công nghệ giúp doanh nghiệp tối ưu vận hành, giảm thời gian và chi phí; kết nối các mắt xích trong chuỗi logistics, và nâng cao khả năng tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu thông qua tiêu chuẩn hóa và minh bạch dữ liệu. Có thể nói, công nghệ không chỉ giúp làm tốt hơn, mà còn giúp doanh nghiệp logistics làm được những việc trước đây chưa làm được.

Thực tiễn tại Gemadept, là doanh nghiệp hoạt động trong hệ sinh thái tích hợp Cảng - Logistics, với mạng lưới trải dài từ Bắc vào Nam. Riêng tại miền Bắc, Gemadept đã và đang tập trung phát triển một hệ sinh thái tương đối hoàn chỉnh, bao gồm: Cụm cảng Nam Đình Vũ - cảng sông quy mô lớn nhất khu vực miền Bắc; Nam Hải ICD - trung tâm trung chuyển và hậu phương logistics quan trọng tại Hải Phòng.

Cùng với hệ thống trung tâm phân phối, kho bãi tại Hải Phòng, Hưng Yên, Bắc Ninh, phục vụ trực tiếp các khu công nghiệp và khách hàng sản xuất. Với hệ sinh thái này, Gemadept không chỉ cung cấp dịch vụ khai thác cảng, mà còn từng bước kết nối chuỗi dịch vụ từ cảng - ICD - depot - kho - vận tải - khách hàng.

Song song với đầu tư hạ tầng, Gemadept xác định công nghệ và chuyển đổi xanh là hai yếu tố quan trọng trong chiến lược phát triển. Tại khu vực Hải Phòng, đặc biệt là cụm cảng Nam Đình Vũ và Nam Hải ICD, doanh nghiệp đã triển khai nhiều giải pháp công nghệ và môi trường, tiêu biểu như: Ứng dụng Smart Port, số hóa quy trình khai thác và điều hành; Triển khai thanh toán điện tử, chứng từ điện tử, giúp giảm thời gian xử lý và tăng tính minh bạch; Ứng dụng các hệ thống quản lý khai thác cảng, kho bãi hiện đại, kết nối dữ liệu theo thời gian thực; Đầu tư thiết bị khai thác sử dụng điện, cẩu điện, phương tiện nội cảng chạy điện; Đẩy mạnh sử dụng năng lượng sạch, năng lượng xanh, hiện cảng Nam Đình Vũ đã đạt chứng nhận Cảng xanh và Nam Hải ICD đã được chứng nhận kiểm kê khí nhà kính từ Đơn vị đánh giá độc lập BSI - Viện tiêu chuẩn Anh quốc. 

Những đầu tư này đã giúp cảng nâng cao hiệu quả khai thác, tăng năng suất và giảm chi phí vận hành, đồng thời đáp ứng tốt hơn yêu cầu của khách hàng và các hãng tàu quốc tế.

"Có thể thấy rằng, không chỉ Gemadept mà các cảng trong khu vực Hải Phòng hiện nay đều đang tích cực đầu tư công nghệ, nâng cấp hạ tầng và dịch vụ, nhằm đón đầu làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng và dòng vốn đầu tư vào Việt Nam. Nhờ đó, trong năm 2025, sản lượng hàng hóa thông qua khu vực Hải Phòng tiếp tục tăng trưởng tích cực, đạt 114,5 triệu tấn, hàng container đạt hơn 8,2 triệu TEU, tăng hơn 10% so với năm 2024, cho thấy nhu cầu thị trường và hiệu quả của việc đầu tư đồng bộ cả hạ tầng và công nghệ.", ông Phạm Quốc Long nói.

Hoàn thiện hạ tầng kết nối ở cấp quốc gia

Chú thích ảnh
Xe container vào nhận hàng tại cảng Nam Đình Vũ. Ảnh: Quốc Khánh/TTXVN

Từ thực tiễn hoạt động cho thấy doanh nghiệp logistics đang chủ động đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng, công nghệ, phương tiện thiết bị và hệ sinh thái dịch vụ, nhằm nâng cao hiệu quả vận hành và đón đầu làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng, đặc biệt là dòng vốn FDI vào Việt Nam. 

Tuy nhiên, các doanh nghiệp logistics cho rằng, để các đầu tư này phát huy đầy đủ hiệu quả, cần có sự hoàn thiện tương ứng về hạ tầng kết nối ở cấp quốc gia. Nếu ví công nghệ và hạ tầng doanh nghiệp là "điều kiện cần", thì hạ tầng kết nối đồng bộ chính là "điều kiện đủ" để giảm chi phí logistics và nâng cao năng lực cạnh tranh tổng thể. 

Hiện nay, mặc dù hệ thống cảng tại Hải Phòng đã được đầu tư đồng bộ với khả năng tiếp nhận tàu đến khoảng 48.000 DWT và công suất lớn, nhưng việc luồng kênh Hà Nam chưa được nâng cấp tương ứng đang làm hạn chế hiệu quả khai thác thực tế. Điều này dẫn đến việc tàu chưa thể khai thác tối đa tải trọng, làm tăng chi phí logistics trên mỗi đơn vị hàng hóa. Ở quy mô lớn, đây không chỉ là vấn đề của riêng doanh nghiệp hay cảng, mà là bài toán chi phí của toàn chuỗi logistics quốc gia.

Do đó, doanh nghiệp kiến nghị cơ quan, ban, ngành liên quan cần sớm nghiên cứu cơ chế nạo vét, hạ sâu luồng kênh Hà Nam xuống khoảng -9 m đến -9,5 m và từng bước mở rộng luồng từ một chiều lên hai chiều để giúp tối ưu tải trọng tàu, giảm chi phí vận tải, nâng cao hiệu quả khai thác hạ tầng đã đầu tư.

Về kết nối đường sắt, các dự án nâng cấp, kết nối đường sắt quốc tế vẫn còn chậm, thông tin về tiến độ và định hướng kết nối còn phân tán, khiến doanh nghiệp khó chủ động xây dựng phương án đầu tư và khai thác logistics đa phương thức. Việc phụ thuộc lớn vào đường bộ không chỉ làm tăng chi phí vận tải mà còn gây áp lực lên hạ tầng cửa khẩu và giảm tính ổn định của chuỗi cung ứng. Trong bối cảnh đó, việc thúc đẩy kết nối đường sắt quốc tế, đặc biệt là gắn trực tiếp với cảng biển và trung tâm logistics, sẽ giúp hình thành cấu trúc vận tải đa phương thức hiệu quả hơn, giảm chi phí và nâng cao năng lực cạnh tranh của chuỗi logistics Việt Nam.

Việc phát triển Khu thương mại tự do (Free Trade Zone - FTZ) cần đi cùng với quy hoạch kết nối hạ tầng liên vùng và cơ chế vận hành thông suốt, nhằm tối đa hóa hiệu quả của toàn chuỗi logistics, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao vào khu vực miền Bắc.

Đối với chính sách phí, doanh nghiệp cho rằng, Hải Phòng là cửa ngõ xuất nhập khẩu lớn nhất miền Bắc, do đó thành phố cần xem xét theo hướng điều chỉnh phí hạ tầng cảng biển, nhằm tạo sự đồng bộ về chính sách giữa các vùng, đồng thời giảm chi phí cho doanh nghiệp, tăng sức hấp dẫn thu hút dòng hàng và dòng vốn đầu tư.

Theo Phó Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng Hoàng Minh Cường, Hải Phòng đang phát triển dựa trên ba trụ cột kinh tế chiến lược: công nghiệp công nghệ cao, cảng biển - logistics, và du lịch - thương mại. Sự kết hợp này tạo nên một cấu trúc kinh tế cân bằng, đồng thời mở ra những cơ hội hợp tác đa ngành, đa lĩnh vực. Thành phố cam kết xây dựng môi trường đầu tư minh bạch, thuận lợi, luôn sẵn sàng lắng nghe và tiếp thu ý kiến từ cộng đồng doanh nghiệp, đối tác trong và ngoài nước. Điều đó cho thấy một Hải Phòng năng động, thân thiện với nhà đầu tư, đồng thời tiên phong thúc đẩy mô hình logistics xanh, bền vững, hướng tới chuẩn mực quốc tế và phát triển dài hạn.

Ngày 13/3/2026, Bộ Công Thương đã ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050, nhằm cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, bảo đảm triển khai đồng bộ, hiệu quả trong thực tiễn. 

Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Văn Hoà, Giám đốc Công ty cổ phần kỹ thuật và dịch vụ Vitech cho rằng, Kế hoạch này là một định hướng rất quan trọng, sẽ tạo ra cú hích lớn cho Hải Phòng - trung tâm cảng biển và logistics hàng đầu miền Bắc. Thành phố có cơ hội trở thành "đầu tàu" thử nghiệm các mô hình logistics hiện đại, nhưng đồng thời doanh nghiệp địa phương cũng đối diện thách thức về hạ tầng, nhân lực và cạnh tranh quốc tế.

Về hạ tầng cảng biển, logistics, Hải Phòng sẽ được hưởng lợi từ định hướng nâng cấp hạ tầng đồng bộ trong kế hoạch quốc gia. Còn doanh nghiệp được tiếp cận chính sách hỗ trợ. Các giải pháp trong Kế hoạch nhấn mạnh giảm chi phí logistics, ứng dụng công nghệ số, phát triển logistics xanh. Đây là lợi thế cho doanh nghiệp Hải Phòng vốn đang dịch chuyển từ chi phí sang tốc độ và minh bạch.

Đoàn Minh Huệ (TTXVN )