Khép lại quý I/2026, bức tranh kinh tế vĩ mô ghi nhận những gam màu sáng khi chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tăng 9% - mức tăng cao nhất trong nhiều năm trở lại đây. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục khẳng định vai trò "đầu tàu" dẫn dắt với tốc độ tăng trưởng ấn tượng 9,7%.
Công nhân làm việc tại Khu Công nghiệp Tân An, tỉnh Đắk Lắk. Ảnh tư liệu: Hoài Thu/TTXVN
Thế nhưng, phía sau những con số tăng trưởng ấy lại đang ẩn chứa một "nghịch lý" đáng lo ngại. Những thách thức ngầm về tỷ lệ tồn kho, đứt gãy chuỗi cung ứng và rào cản kỹ thuật đang đòi hỏi một hệ thống giải pháp đồng bộ, quyết liệt hơn bao giờ hết.
Số liệu mới nhất từ Tổng cục Thống kê cho thấy, dù năng lực sản xuất đang phục hồi mạnh mẽ, nhưng tỷ lệ tồn kho của toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân trong quý I/2026 vẫn neo ở mức rất cao: 84,8%. Kết quả khảo sát xu hướng kinh doanh cũng thể hiện thực tại không mấy lạc quan khi vẫn còn tới 30,1% số doanh nghiệp nhận định tình hình sản xuất, kinh doanh tiếp tục gặp khó khăn.
Điều này chỉ ra một điểm nghẽn cốt lõi. Đó là hàng hóa được sản xuất ra nhưng tốc độ tiêu thụ không bắt kịp, dòng tiền bị "đóng băng" tại các kho bãi. Sự chênh lệch giữa sản lượng và sức mua đang bào mòn sức chống chịu của các doanh nghiệp, đặc biệt là khối doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs).
Chia sẻ về áp lực sinh tồn và bài toán hiệu suất, ông Nguyễn Văn Hùng, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Tập đoàn CNCTech Group bày tỏ sự trăn trở khi máy móc hoạt động hết công suất không có nghĩa là doanh nghiệp đang khỏe mạnh. Nếu lực lượng sản xuất không tìm ra được một phương án tối ưu về suất đầu tư, doanh nghiệp có thể sẽ rơi vào tình cảnh tiến thoái lưỡng nan. Trong bối cảnh công nghệ thay đổi chóng mặt, chỉ một quyết định đầu tư sai lầm hoặc hàng hóa tồn kho không luân chuyển được, doanh nghiệp sẽ lập tức bị đào thải ngay trên sân nhà.
Câu hỏi đặt ra, đâu là nguyên nhân khiến hàng hóa chế tạo "kẹt" lại tại kho? Các chuyên gia trong ngành công nghiệp chế tạo đã mổ xẻ vấn đề để thấy rằng, các doanh nghiệp ngành này đang phải hứng chịu tác động từ nhiều phía. Thứ nhất là sự bất ổn của địa chính trị toàn cầu. Xung đột tại Biển Đỏ và eo biển Hormuz đã làm xáo trộn luồng tuyến hàng hải, đẩy chi phí logistics neo cao ngất ngưởng. Giá nguyên vật liệu nhập khẩu biến động bất thường khiến các doanh nghiệp dù có đơn hàng nhưng biên lợi nhuận lại bị ép xuống mức thấp nhất.
Thứ hai, các thị trường xuất khẩu trọng điểm như Liên minh châu Âu (EU) và Bắc Mỹ đang dựng lên hàng loạt rào cản kỹ thuật khắt khe. Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) hay các tiêu chuẩn về Môi trường - Xã hội - Quản trị (ESG) không còn là khuyến nghị, mà đã trở thành "mệnh lệnh sinh tồn".
Đánh giá về sức ép này, bà Trương Thị Chí Bình, Tổng Thư ký Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam (VASI) nhận định, các rào cản xanh đang tạo ra một gánh nặng chi phí tuân thủ khổng lồ đối với các doanh nghiệp chế tạo trong nước. Hàng hóa sản xuất ra nếu không đáp ứng được dấu chân carbon lập tức bị từ chối nhận hàng, dẫn đến tồn kho cục bộ. Khi xuất khẩu gặp khó bởi hàng rào kỹ thuật, lối thoát an toàn và thiết thực nhất lúc này là doanh nghiệp cơ khí, chế tạo cần nhanh chóng xoay trục, quay về khai thác thị trường nội địa 100 triệu dân. Rất nhiều lĩnh vực trong nước đang rất "khát" nguồn cung linh kiện để thay thế hàng nhập khẩu.
Để phá vỡ "tảng băng" tồn kho và gỡ khó cho sản xuất công nghiệp, sự nỗ lực đơn lẻ của doanh nghiệp là chưa đủ. Nền kinh tế đang cần những "cú hích" mạnh mẽ từ các chính sách điều hành vĩ mô, đặc biệt là việc tạo ra thị trường tiêu thụ nội địa thông qua giải ngân đầu tư công.
Trao đổi về định hướng khơi thông điểm nghẽn, ông Bùi Huy Sơn, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính (Bộ Công Thương) khẳng định quan điểm đồng hành của cơ quan quản lý, giải pháp căn cơ nhất hiện nay để cứu cánh cho ngành công nghiệp chế tạo là phải tạo ra không gian thị trường mới.
Chính phủ và các bộ ngành đang khẩn trương đẩy mạnh triển khai các siêu dự án hạ tầng lớn như đường sắt tốc độ cao trục Bắc - Nam, các tuyến đường bộ cao tốc. Quan điểm xuyên suốt là sẽ ưu tiên tối đa tỷ lệ đóng góp của khối doanh nghiệp công nghiệp chế tạo, cơ khí và vật liệu xây dựng trong nước tham gia vào các đại dự án này. Đây chính là "mỏ vàng" để các doanh nghiệp hấp thụ năng lực sản xuất, giải phóng hàng tồn kho.
Từ phía doanh nghiệp, sự chuyển đổi cũng đang diễn ra âm thầm nhưng quyết liệt. Thay vì ngồi chờ cơ hội, nhiều đơn vị đã chủ động nâng cấp. Đại diện Công ty cổ phần Thiết bị và Giải pháp Cơ khí Automech chia sẻ về chiến lược thích ứng: "Chúng tôi hiểu rằng không thể tiếp tục mô hình gia công manh mún. Để tồn tại, doanh nghiệp buộc phải liên kết tạo thành các hệ sinh thái khép kín, số hóa dây chuyền để kiểm soát chất lượng từ gốc. Chỉ khi làm chủ được công nghệ thiết kế và sản xuất trọn gói, chúng ta mới đủ sức cạnh tranh để nhận các gói thầu lớn từ nội địa và quốc tế, tránh rủi ro sản xuất ồ ạt nhưng không có đầu ra".
Để duy trì đà phục hồi, sự cộng hưởng giữa chính sách vĩ mô bao gồm cả kích cầu qua đầu tư công lẫn giảm thuế phí và sự lột xác về chuyển đổi số, đáp ứng tiêu chuẩn xanh, tối ưu hiệu suất... đang là con đường duy nhất. Chỉ khi khơi thông được dòng chảy hàng hóa, biến năng lực sản xuất thành dòng tiền thực chất, ngành công nghiệp chế tạo Việt Nam mới thực sự bước vào chu kỳ tăng trưởng bền vững, khẳng định vị thế trụ cột vững chắc của nền kinh tế.