Năm 2026 mở ra nhiệm kỳ mới của Đại hội Đảng toàn quốc, cũng là năm đầu đất nước bước vào giai đoạn “sắp xếp lại giang sơn” với bộ máy tinh gọn hơn. Giáo sư Lê Văn Lợi, Ủy viên Trung ương Đảng, Viện trưởng Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam đã có những chia sẻ với phóng viên báo Tin tức và Dân tộc về những giải pháp tạo nền tảng niềm tin xã hội trong giai đoạn kiến thiết này.
Việt Nam hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN
Giáo sư đánh giá đâu là “hào khí khởi đầu” quan trọng nhất cần được nuôi dưỡng để tạo nền tảng niềm tin xã hội trong giai đoạn kiến thiết này?
Năm 2026 là năm khởi đầu quan trọng, mở ra một thời kỳ mới, triển khai những kết quả ban đầu của quá trình tinh gọn bộ máy, hợp nhất, sáp nhập các địa phương, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia, nói ngắn gọn là “sắp xếp lại giang sơn”.
Nếu nói về “hào khí khởi đầu” quan trọng nhất để tạo niềm tin xã hội trong giai đoạn kiến thiết này, hai trụ cột Đoàn kết và Quản trị minh bạch chính là "hào khí khởi đầu”, nguồn vốn xã hội quan trọng nhất mà quốc gia cần nuôi dưỡng, giúp cải cách đi nhanh nhưng không gây xáo trộn, đi xa nhưng vẫn giữ được sự đồng thuận.
Trong lý thuyết quản trị hiện đại, niềm tin xã hội là “chất keo” gắn kết các chủ thể trong hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội. Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn trong nước đều cho thấy, khi niềm tin được củng cố, xã hội sẵn sàng chia sẻ gánh nặng ngắn hạn để đổi lấy lợi ích dài hạn. Bởi vậy, việc khơi dậy và duy trì “hào khí” cải cách thông qua đoàn kết và quản trị minh bạch không chỉ là yêu cầu chính trị, mà còn là lựa chọn khoa học, nhằm bảo đảm tính hiệu lực và tính bền vững của tiến trình đổi mới.
Thực tiễn cho thấy, đoàn kết là cơ chế ổn định cấu trúc và năng lực huy động nguồn lực xã hội. Trong tiến trình tự cải cách, đổi mới, đặc biệt là quá trình tinh gọn bộ máy, tất yếu xảy ra va chạm lợi ích, có những quán tính cũ, những băn khoăn tâm lý phát sinh. Trong đó, đoàn kết là lá chắn tâm lý, giúp xã hội đối diện với thay đổi trong tâm thế bình tĩnh, sẵn sàng, trật tự.
Cũng trong điều kiện như vậy, đoàn kết là chất keo tạo nên sự ổn định cấu trúc, gắn kết mạch điều hành giữa Trung ương và địa phương, giữa khu vực công và khu vực tư, giữa Nhà nước – doanh nghiệp – người dân, với cùng một mục tiêu phát triển. Đoàn kết là năng lực động viên và phối hợp, giúp chuyển đổi số, cải cách hành chính, cải cách thể chế được thực thi trên nền đồng thuận xã hội, thay vì phải dựa vào mệnh lệnh và cưỡng chế.
Trong giai đoạn kiến thiết mới, đoàn kết cần được xây dựng đồng thời ở hai cấp độ.
Thứ nhất là đoàn kết trong hệ thống. Đây là sự thống nhất về nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức khi bước vào giai đoạn sắp xếp lại. Nếu thiếu sự đồng lòng dựa trên mục tiêu phụng sự quốc gia, dân tộc, quá trình tinh gọn dễ phát sinh cục bộ, tâm lý giữ ghế, hoặc làm suy giảm động lực đổi mới. Trái lại, sự nhất quán trong hệ thống sẽ tạo ra hình ảnh một bộ máy có kỷ luật, có mục tiêu rõ ràng, qua đó lan tỏa tín hiệu an tâm tới xã hội.
Thứ hai là đoàn kết quốc gia. “Hào khí khởi đầu” của năm 2026 cần được nuôi dưỡng từ đồng thuận giữa Nhà nước và Nhân dân. Chỉ khi người dân cảm nhận được sự quyết tâm và mục tiêu thực sự của thể chế trong việc “tự đổi mới chính mình” để phục vụ tốt hơn, làn sóng hợp tác xã hội sẽ hình thành. Đây là sức mạnh giúp đất nước vượt qua những “khúc quanh” của cải cách, biến thách thức ngắn hạn thành năng lực cạnh tranh dài hạn, tạo đà bước vào giai đoạn phát triển cao hơn.
Nếu đoàn kết là năng lượng, thì quản trị minh bạch là cơ chế định hướng và bảo vệ nguồn năng lượng đó. Minh bạch, xét theo nghĩa quản trị là công khai thông tin, tổng hòa của thông tin đúng, quy trình rõ, giám sát được, trách nhiệm giải trình đầy đủ và liêm chính thể chế.
Quản trị minh bạch củng cố niềm tin xã hội bằng trải nghiệm thực tế. Khi chính sách được công bố rõ ràng, tiêu chí được giải thích nhất quán, dữ liệu phù hợp được chia sẻ, quy trình được giám sát, người dân và doanh nghiệp có thể dự đoán được hành vi của Nhà nước và cảm nhận được sự công bằng của chính sách. Khi đó, niềm tin trở thành nếp tư duy ổn định, không chỉ là cảm xúc nhất thời.
Trong giai đoạn kiến thiết gắn với “sắp xếp lại giang sơn”, nuôi dưỡng “hào khí khởi đầu” từ hai trụ cột Đoàn kết và Quản trị minh bạch chính là chìa khóa để hóa giải mâu thuẫn giữa nguồn lực hữu hạn và khát vọng phát triển dài hạn. Khi tinh gọn được dẫn dắt bởi đoàn kết và được bảo đảm bằng quản trị minh bạch, quốc gia sẽ tạo lập được nền tảng niềm tin xã hội vững chắc, bệ phóng quan trọng để hiện thực hóa khát vọng phát triển, hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Đoàn kết và quản trị minh bạch được xem là hai trụ cột then chốt để tạo sự đồng thuận và niềm tin trong nhân dân.
Theo Giáo sư, trong bối cảnh cải cách toàn diện hiện nay, quản trị minh bạch cần được thể hiện cụ thể như thế nào để người dân thực sự cảm nhận được sự đổi mới?
Trong bối cảnh cải cách toàn diện hiện nay, quản trị minh bạch phải được thể hiện theo cách người dân nhìn thấy, chạm thấy và kiểm chứng được. Minh bạch không chỉ là việc “công khai thông tin”, mà là một cơ chế vận hành tạo niềm tin, thông qua việc được cụ thể hóa thành những "điểm chạm" thực tế để người dân cảm nhận được sự đổi mới.
Quản trị minh bạch giúp giảm chi phí không chính thức, nâng hiệu quả thị trường và thuận lợi hóa môi trường kinh doanh. Minh bạch giúp thu hẹp không gian nhũng nhiễu, giảm rủi ro chính sách, giảm chi phí tuân thủ và chi phí giao dịch. Tác động của minh bạch vì vậy không chỉ nằm ở nâng cao đạo đức công vụ, mà còn là nền tảng trực tiếp để nâng cao năng suất, thúc đẩy đầu tư, củng cố năng lực cạnh tranh quốc gia. Quản trị minh bạch tạo cơ chế kiểm soát quyền lực lành mạnh, nâng hiệu quả điều hành.
Tinh gọn bộ máy chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi kèm cơ chế giám sát và giải trình. Nếu thiếu minh bạch, tinh gọn có thể bị hiểu sai như sự tập trung quyền lực. Trong thời gian tới, quản trị minh bạch cần được thể hiện qua các khía cạnh cụ thể. Chẳng hạn như, minh bạch trong sàng lọc và bố trí nhân sự theo vị trí việc làm, dựa trên năng lực. Thành công của “sắp xếp lại giang sơn” phụ thuộc lớn vào chất lượng đội ngũ trong bộ máy tinh gọn. Vì vậy, cần công khai tiêu chí, quy trình và nguyên tắc lựa chọn, bảo đảm đánh giá dựa trên năng lực chuyên môn, đạo đức và uy tín.
Đồng thời, áp dụng công nghệ và quản trị dữ liệu để minh bạch hóa. Công nghệ phải trở thành công cụ chủ đạo để nâng cao tính minh bạch thông qua việc dữ liệu hóa quy trình, công khai tiến độ xử lý hồ sơ, chuẩn hóa thời hạn và trách nhiệm, mở rộng công khai dữ liệu quản trị ở mức phù hợp để xã hội giám sát. Bên cạnh đó, minh bạch đi đôi với trách nhiệm giải trình và cơ chế phản hồi. Người dân cảm nhận kết quả đổi mới rõ nhất khi thấy bộ máy không né tránh sai sót, sẵn sàng giải trình, điều chỉnh chính sách dựa trên phản hồi xã hội, và xử lý nghiêm các hành vi nhũng nhiễu.
Để sự đoàn kết và quản trị minh bạch thực sự trở thành "hào khí khởi đầu" cho nhiệm kỳ mới, hệ thống quản trị quốc gia phải chuyển sang "chủ động minh bạch ", tự giác công khai và chịu sự giám sát của người dân. Đó chính là nền tảng bền vững để xây dựng niềm tin xã hội, tạo tiền đề cho sự đồng thuận toàn dân, đưa đất nước vững vàng tiến vào giai đoạn kiến thiết mới năm 2026 và những năm tiếp theo.
GS.TS. Lê Văn Lợi, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Ảnh: TTXVN
Năm 2026 được kỳ vọng là thời điểm tạo đà cho tăng trưởng chất lượng cao, trong đó kinh tế tư nhân được tháo gỡ rào cản, khuyến khích tinh thần sáng tạo và bứt phá. Theo Giáo sư, đâu là những “điểm nghẽn” về thể chế, tâm lý xã hội hoặc văn hóa quản trị cần sớm được tháo gỡ để khu vực kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực phát triển mạnh mẽ của đất nước?
Dưới góc nhìn khoa học xã hội, để kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực phát triển mạnh mẽ trong năm 2026 và giai đoạn tiếp theo, phải tháo gỡ đồng thời ba nhóm “điểm nghẽn”: Điểm nghẽn thể chế – thực thi; điểm nghẽn tâm lý xã hội – niềm tin; điểm nghẽn văn hóa quản trị.
Về điểm nghẽn thể chế - thực thi, doanh nghiệp tư nhân hạn chế khả năng chống chịu rủi ro thể chế. Với khu vực tư nhân, “ổn định” không có nghĩa là bất biến, mà là có lộ trình, có thời gian chuyển tiếp, có hướng dẫn rõ ràng và nhất quán. Muốn vậy, cần nâng chất lượng quy trình ban hành chính sách theo hướng đánh giá tác động nghiêm túc, tham vấn thực chất, công bố sớm dự thảo, và cơ chế giải thích, hướng dẫn thống nhất, giảm thiểu thực tế “mỗi nơi làm một kiểu”.
Nhiều rào cản của kinh tế tư nhân nằm ở những sự vụ hàng ngày như giấy phép con, điều kiện kinh doanh chồng lấn, thanh, kiểm tra trùng lặp, hồ sơ vòng vo, thời gian chờ đợi không hồi kết. Phải chuyển mạnh sang cơ chế quản lý dựa trên rủi ro, trong đó các doanh nghiệp có lịch sử tuân thủ tốt được “đi nhanh”, các doanh nghiệp rủi ro cao chịu giám sát chặt chẽ hơn. Đây là cách vừa giảm chi phí xã hội, vừa nâng cao kỷ cương, kỷ luật. Nghiên cứu cũng cho thấy, để kinh tế tư nhân đầu tư quy mô lớn, họ cần sự bảo đảm chắc chắn về quyền sử dụng đất, quy hoạch minh bạch, thủ tục chuyển mục đích rõ ràng, chi phí thời gian dự đoán được.
Tiếp cận vốn vẫn là “nút thắt” của doanh nghiệp nhỏ và vừa nếu hệ thống tài chính chủ yếu dựa vào tài sản thế chấp, thiếu cơ chế chia sẻ rủi ro, thiếu vốn dài hạn và thị trường vốn, quỹ đầu tư chưa thật sự rộng mở. Khu vực tư nhân mạnh đòi hỏi hệ sinh thái tài chính đa tầng, có cơ chế bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ minh bạch cho đổi mới sáng tạo. Kinh tế tư nhân chỉ có thể bứt phá khi họ đua trong cuộc đua công bằng. Nếu doanh nghiệp cảm nhận có “hai hệ quy tắc”, có sự phân biệt đối xử, thì động lực đầu tư dài hạn sẽ suy giảm và sáng tạo sẽ bị thay bằng tìm kiếm quan hệ.
Về điểm nghẽn tâm lý xã hội, doanh nghiệp tư nhân thiếu niềm tin sẽ rơi vào tâm thế “phòng thủ” trong cải cách. Khi môi trường thể chế khó dự đoán, doanh nghiệp tư nhân có xu hướng chọn chiến lược “ngắn hạn – an toàn – phân tán”, ít dám đầu tư công nghệ, ít dám tham gia lĩnh vực đòi hỏi vốn lớn và thời gian hoàn vốn dài.
Vì vậy, tháo gỡ rào cản không chỉ là bãi bỏ thủ tục, mà là tạo dựng niềm tin thể chế để doanh nghiệp dám “đi đường dài”. Một xã hội khuyến khích sáng tạo phải chấp nhận một mức độ “thử và sai” có kiểm soát. Nếu thất bại bị nhìn như tội lỗi, nếu phá sản bị coi là vết nhơ, thì tinh thần khởi nghiệp sẽ bị triệt tiêu, và đổi mới sẽ chỉ còn trong lời nói. Do đó, cần thúc đẩy văn hóa “tôn trọng người làm ăn chân chính”, coi doanh nhân là lực lượng kiến tạo việc làm, đóng góp thuế, nâng năng suất, đồng thời hoàn thiện cơ chế tái cấu trúc – phá sản theo hướng minh bạch, nhanh, cho phép làm lại, để giảm chi phí xã hội của thất bại và tăng động lực thử nghiệm.
Về điểm nghẽn văn hóa quản trị, hệ thống cần chuyển sang tâm thế quản lý mang tính kiến tạo và phục vụ và giải quyết căn bệnh “sợ trách nhiệm”. Nếu bộ máy coi doanh nghiệp là đối tượng cần “kiểm soát”, thì cách hành xử sẽ thiên về thủ tục, xin phép, tiền kiểm, kiểm tra. Nhưng nếu doanh nghiệp được coi là đối tác tạo tăng trưởng, tạo việc làm, thì đối xử với doanh nghiệp sẽ thay đổi căn bản theo hướng quy định sẽ rõ ràng, xin cho sẽ giảm, tập trung hậu kiểm và chế tài nghiêm minh đối với vi phạm.
Trong bối cảnh yêu cầu kỷ luật – kỷ cương cao, nếu quy định không đủ rõ, cán bộ dễ chọn phương án an toàn. Hệ quả là doanh nghiệp bị chậm cơ hội, chi phí tăng, niềm tin giảm. Vì vậy, cùng với phòng chống tiêu cực, cần thiết kế cơ chế để phân biệt rạch ròi giữa sai phạm vụ lợi và rủi ro chính sách trong quá trình làm đúng, có hướng dẫn thống nhất, có “hành lang an toàn” cho người dám làm vì lợi ích chung, và có cơ chế giải trình minh bạch.
Bên cạnh đó, nhiều khó khăn của doanh nghiệp tư nhân không nằm trong văn bản, mà nằm ở “độ vênh” khi thực thi. Nếu không có kênh đối thoại định kỳ theo ngành, địa phương, có tổng hợp, trả lời, sửa đổi, tiếng nói doanh nghiệp sẽ bị phân tán, và chính sách khó đi vào cuộc sống. Đối thoại tốt không làm suy yếu quản lý nhà nước mà ngược lại, đối thoại giúp chính sách sát thực tiễn, giảm chi phí sai lầm và nâng hiệu quả điều hành.
Những diễn giải ở trên cho thấy, chìa khóa để kinh tế tư nhân trở thành động lực mạnh mẽ nằm ở một chuyển dịch nền tảng: từ môi trường dựa nhiều vào quan hệ sang môi trường dựa vào luật lệ; từ tiền kiểm sang quản trị rủi ro; từ tâm thế phòng thủ sang tinh thần sáng tạo; từ quản lý giám sát sang quản lý kiến tạo, phục vụ. Đây chính là nền tảng quan trọng nhất để tăng trưởng chất lượng cao trong năm 2026 và cả nhiệm kỳ mới.
Giàn khoan Bạch Hổ trong những ngày Tết Bính Ngọ 2026. Ảnh: Huỳnh Sơn/TTXVN
Chuyển đổi số đang được xác định là động lực then chốt, từ kết nối dữ liệu quốc gia đến tinh gọn bộ máy và nâng cao hiệu quả quản lý. Từ nghiên cứu và thực tiễn tư vấn chính sách, Giáo sư nhìn nhận vai trò của khoa học xã hội và nhân văn ra sao trong việc bảo đảm quá trình chuyển đổi số nhanh, bền vững, nhân văn và bao trùm?
Chuyển đổi số nếu nhìn đúng bản chất là một cuộc chuyển đổi xã hội dựa trên công nghệ. Dữ liệu quốc gia, nền tảng số, trí tuệ nhân tạo… chỉ là phần cứng và công cụ, còn tốc độ, sự bền vững, tính nhân văn và bao trùm lại phụ thuộc chủ yếu vào phần mềm xã hội. Hiệu quả, ý nghĩa của cuộc chuyển đổi xã hội dựa trên công nghệ được đánh giá thông qua hành vi con người, văn hóa tổ chức, thiết kế chính sách, niềm tin công chúng, chuẩn mực đạo đức và khả năng quản trị rủi ro. Ở điểm này, khoa học xã hội và nhân văn không đứng ngoài mà giữ vai trò như bộ định hướng và định chuẩn của quá trình chuyển đổi số.
Về vai trò trong quá trình chuyển đổi xã hội dựa trên công nghệ, có thể nói khoa học xã hội và nhân văn giúp chuyển đổi số “đi nhanh” nhưng không “đi ẩu”, đảm bảo chuyển đổi số trở thành một tiến trình phục vụ con người, củng cố niềm tin và tăng năng lực quản trị quốc gia. Vai trò của khoa học xã hội và nhân văn giúp đặt con người làm trung tâm, đảm bảo chất lượng của “trải nghiệm công dân” trong các chương trình chuyển đổi số.
Trong nhiều chương trình chuyển đổi số, rủi ro lớn nhất không phải thiếu nền tảng kỹ thuật, mà là thiếu hiểu biết và thấu cảm với người dùng. Khoa học xã hội cung cấp phương pháp để trả lời những câu hỏi như: Người dân thực sự gặp khó ở bước nào khi dùng dịch vụ công trực tuyến? Vì sao cùng một nền tảng nhưng địa phương này tỷ lệ dùng cao, địa phương khác lại thấp?... Khoa học xã hội và nhân văn cũng nhắc chúng ta một nguyên tắc, đó là tính bao trùm không tự đến từ công nghệ, mà đến từ thiết kế chính sách.
Vì vậy, song song với kết nối dữ liệu quốc gia, cần coi phổ cập kỹ năng số, tiếp cận thiết bị và hạ tầng số như một phần của an sinh phát triển. Một quốc gia số mạnh không chỉ đo bằng số lượng nền tảng, mà đo bằng tỷ lệ người dân được dùng và được lợi. Tôi tin rằng chuyển đổi số sẽ đạt tốc độ khi có công nghệ tốt, nhưng sẽ đạt độ bền khi có niềm tin xã hội, sẽ có tính nhân văn khi tôn trọng con người và quyền công dân, và sẽ đạt tính bao trùm khi mọi nhóm trong xã hội đều có khả năng tiếp cận và hưởng lợi. Khoa học xã hội và nhân văn giúp chuyển đổi số không chỉ là câu chuyện của máy móc và dữ liệu, mà là câu chuyện của một nền quản trị hiện đại, kỷ cương, phục vụ nhân dân và phát triển vì con người.
Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư!