03:14 18/03/2026

Điều hành chính sách tiền tệ giữa 'vòng xoáy' lạm phát

Áp lực lạm phát gia tăng trong khi nhu cầu vốn của nền kinh tế tiếp tục mở rộng đang đặt chính sách tiền tệ vào thế “cân não”.

Chú thích ảnh
Khách hàng giao dịch tại Vietcombank chi nhánh Vĩnh Phúc. Ảnh minh họa: Trần Việt/TTXVN

Trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động, dư địa điều hành thu hẹp, bài toán đặt ra không còn là nới lỏng hay thắt chặt, mà là làm thế nào để điều hành linh hoạt, kiểm soát giá cả, giữ ổn định vĩ mô nhưng vẫn đảm bảo dòng vốn cho tăng trưởng.

Áp lực lạm phát và vai trò “kép” của chính sách tiền tệ

Trong giai đoạn phục hồi và tăng tốc hiện nay, tín dụng tiếp tục đóng vai trò là kênh dẫn vốn chủ lực của nền kinh tế. Quy mô dư nợ tăng nhanh đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng, nhưng đồng thời cũng đặt ra áp lực không nhỏ đối với ổn định vĩ mô, đặc biệt là lạm phát.

Khi dòng vốn được mở rộng trong bối cảnh tổng cầu phục hồi, nguy cơ gia tăng mặt bằng giá là điều khó tránh khỏi. Áp lực này càng lớn khi chi phí vốn đầu vào gia tăng, cạnh tranh huy động giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt và các yếu tố bên ngoài biến động khó lường.

Nhấn mạnh vai trò điều hành, TS Đào Minh Tú, Nguyên Phó Thống đốc thường trực Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết: “Chính sách tiền tệ còn gánh vác nhiệm vụ tối quan trọng là kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô qua điều hành cung tiền, tín dụng, lãi suất và tỷ giá”.

“Dư địa điều hành chính sách tiền tệ không còn nhiều khi phải cùng lúc hỗ trợ tăng trưởng và kiểm soát lạm phát”, ông Đào Minh Tú lưu ý thêm về áp lực điều hành trong bối cảnh mới.

Điều này cho thấy chính sách tiền tệ đang phải thực hiện “vai trò kép”, trong khi biên độ linh hoạt ngày càng thu hẹp.

Áp lực lạm phát gia tăng đang đặt cơ quan điều hành đứng trước lựa chọn không dễ dàng: nới lỏng để hỗ trợ tăng trưởng hay thắt chặt để kiểm soát giá cả. Nếu nới lỏng quá mức, dòng tiền dư thừa có thể tạo áp lực lạm phát và làm gia tăng rủi ro tài sản. Ngược lại, nếu thắt chặt quá nhanh, chi phí vốn tăng sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới doanh nghiệp và đà phục hồi.

Phân tích sâu hơn về sự phối hợp chính sách, PGS.TS Nguyễn Thường Lạng – Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế quốc dân nhận định: “Mọi sự điều chỉnh thiếu thận trọng, đồng bộ hai chính sách này có thể dẫn đến nguy cơ vượt tầm kiểm soát, triệt tiêu dư địa tác động của chính sách”.

Vị chuyên gia cũng nhấn mạnh thêm rủi ro từ phía tài khóa: “Nếu nới lỏng tài khóa quá mức nhưng thiếu cơ chế hấp thụ triệt để bằng các dự án phát huy tác động lan tỏa sâu rộng thực sự để tạo được giá trị gia tăng phù hợp có thể gây lãng phí nguồn lực, tạo áp lực lạm phát”. Ở góc độ khác, việc duy trì mặt bằng lãi suất thấp kéo dài có thể làm sai lệch tín hiệu thị trường và gia tăng rủi ro phân bổ vốn.

Những cảnh báo này cho thấy bài toán điều hành không chỉ nằm ở mức độ nới hay siết, mà là ở sự phối hợp nhịp nhàng, đúng thời điểm giữa các công cụ chính sách.

Chính sách tiền tệ không thể “đơn độc”

Bên cạnh áp lực lạm phát, rủi ro trong hệ thống tài chính cũng là vấn đề nổi lên rõ nét. Theo số liệu của NHNN, tỷ lệ tín dụng/GDP hiện ở mức cao (khoảng từ 135-137%). Điều này phản ánh sự phụ thuộc lớn của nền kinh tế vào vốn ngân hàng. Trong khi đó, nợ xấu có xu hướng gia tăng khi các chính sách hỗ trợ dần hết hiệu lực.

TS. Nguyễn Quốc Việt – Trường Đại học Kinh tế, ĐHQG Hà Nội (VEPR) cho rằng chính sách mở rộng tín dụng trong giai đoạn tăng trưởng cao có thể tiềm ẩn nhiều rủi ro nếu dòng vốn chảy vào các lĩnh vực đầu cơ tài sản. “Sự lệch pha giữa kỳ hạn huy động và cho vay có thể làm gia tăng rủi ro thanh khoản trong hệ thống ngân hàng”, ông nhấn mạnh.

Cùng quan điểm, TS. Đào Minh Tú nhấn mạnh cần nghiên cứu tham mưu các chính sách tín dụng phù hợp với thực tiễn và chủ trương của Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, không nên ban hành quá nhiều chính sách ưu đãi làm mất tính thị trường, mất tính trọng điểm và gây méo mó lãi suất, làm giảm hiệu lực điều hành của NHNN. 

Song song với đó, giới chuyên gia cũng lưu ý cần kiểm soát chặt chẽ dòng vốn vào bất động sản hoặc các bong bóng đầu cơ khác, đồng thời nâng cao tiêu chuẩn an toàn hệ thống. Điều này cho thấy xu hướng điều hành “mở rộng có chọn lọc”.

Trong bối cảnh dư địa tiền tệ ngày càng thu hẹp, TS. Đào Minh Tú khuyến nghị cần phát huy vai trò chính sách tài khóa để chia sẻ áp lực với chính sách tiền tệ. 

Bên cạnh đó, đầu tư công cũng cần được đẩy nhanh tiến độ để tạo lực kéo cho tăng trưởng, thay vì phụ thuộc quá nhiều vào tín dụng ngân hàng.

Ngoài ra, việc phát triển thị trường vốn cũng được xem là giải pháp căn cơ. “Phát triển thị trường trái phiếu và chứng khoán là điều kiện quan trọng để giảm gánh nặng cung ứng vốn cho hệ thống ngân hàng”, TS. Nguyễn Quốc Việt đề xuất.

Sự phối hợp đồng bộ giữa các chính sách sẽ giúp giảm áp lực lên tiền tệ, đồng thời nâng cao hiệu quả điều hành chung của nền kinh tế.

Về phía cơ quan điều hành, Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà nhấn mạnh tầm quan trọng của ổn định vĩ mô: “Tăng trưởng kinh tế cao chỉ thực sự có ý nghĩa khi gắn với môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát tốt và các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm”.

Theo ông, bối cảnh kinh tế toàn cầu hiện nay đang tiềm ẩn nhiều rủi ro như xung đột địa chính trị, biến động giá năng lượng hay biến đổi khí hậu, tạo áp lực trực tiếp lên nền kinh tế Việt Nam. Trong điều kiện đó, yêu cầu đặt ra là phải nâng cao tính linh hoạt và phối hợp chính sách. Chính sách tiền tệ cần được điều hành linh hoạt, phù hợp với diễn biến trong nước và quốc tế nhằm đảm bảo hài hòa các mục tiêu: ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đồng thời vẫn cung ứng đủ nguồn vốn tín dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh.

Đáng chú ý, định hướng dòng vốn cũng được nhấn mạnh là yếu tố then chốt. Theo Phó Thống đốc, tín dụng cần tập trung vào các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh, các ngành ưu tiên và động lực tăng trưởng mới. Dòng vốn cần hướng mạnh hơn vào các lĩnh vực gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trong đó lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. Đây được xem là hướng đi quan trọng để vừa duy trì tăng trưởng, vừa nâng cao chất lượng tăng trưởng trong dài hạn.

Trong “vòng xoáy” của lạm phát, tăng trưởng và rủi ro tài chính, điều hành chính sách tiền tệ đang trở thành một bài toán cân bằng ngày càng phức tạp. Khi dư địa chính sách thu hẹp, chính sách tiền tệ không thể “đơn độc” mà cần vận hành trong một tổng thể chính sách đồng bộ, linh hoạt. Chỉ khi đạt được sự phối hợp hiệu quả, nền kinh tế mới có thể vừa kiểm soát lạm phát, vừa duy trì được đà tăng trưởng bền vững trong giai đoạn tới.

Lê Phương (TTXVN)