Trong bối cảnh toàn cầu hóa, văn hóa ngày càng khẳng định vai trò là nguồn lực nội sinh quan trọng, là nền tảng cho phát triển bền vững và là yếu tố tạo nên sức mạnh mềm của mỗi quốc gia.
Việt Nam với bề dày lịch sử hàng nghìn năm văn hiến và hàng nghìn di sản văn hóa vật thể, phi vật thể có giá trị, nếu biết "đánh thức", kết nối và tận dụng hợp lý, di sản sẽ trở thành “vốn quý” để phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên số.
Di sản “nguồn vốn” của kinh tế sáng tạo
Ông Vương Duy Biên, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển công nghiệp văn hoá Việt Nam. Ảnh tư liệu: Thành Phương/TTXVN
Nghệ sĩ Nhân dân Vương Duy Biên, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam nhấn mạnh, di sản là tài sản của đất nước, không chỉ mang ý nghĩa lưu giữ quá khứ mà còn là nguồn lực quan trọng để truyền tải thông điệp văn hóa Việt Nam ra thế giới, giúp bạn bè quốc tế hiểu rõ hơn về đất nước và con người Việt Nam. Với kho tàng di sản phong phú của 54 dân tộc Việt Nam và hệ giá trị văn hóa đa dạng, mỗi dân tộc đều sở hữu những giá trị di sản khác nhau, bao gồm cả di sản vật thể và phi vật thể. Đây cũng chính là yếu tố tạo nên bản sắc riêng của mỗi quốc gia, nếu biết bảo tồn và phát huy hiệu quả, đó sẽ trở thành “tấm danh thiếp” văn hóa đặc sắc trong mắt bạn bè quốc tế.
Trong nhiều năm, di sản văn hóa ở Việt Nam chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ bảo tồn. Những nỗ lực trùng tu di tích hay phục dựng lễ hội, gìn giữ các giá trị văn hóa phi vật thể đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ bản sắc dân tộc. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia đã chỉ ra, nếu chỉ dừng lại ở bảo tồn, di sản sẽ đứng yên trong không gian của quá khứ, chưa phát huy hết giá trị trong đời sống đương đại.
Theo ông Lê Quốc Vinh, Chủ tịch Le Group of Companies, trong một thời gian dài, di sản văn hóa thường được nhìn nhận chủ yếu dưới góc độ bảo tồn. Điều đó là cần thiết, bởi không có ký ức nào có thể tạo ra giá trị nếu bản thân nó bị mai một. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở bảo tồn, di sản sẽ đứng yên trong không gian của quá khứ. Trong khi đó, thế giới đã bước sang một giai đoạn phát triển mới, nơi giá trị kinh tế không còn chỉ được tạo ra từ sản xuất vật chất, mà ngày càng phụ thuộc vào văn hóa, trải nghiệm và bản sắc. Trong bối cảnh đó, câu hỏi quan trọng không còn là chúng ta có bao nhiêu tài nguyên, mà là chúng ta có bao nhiêu câu chuyện đủ mạnh để người khác sẵn sàng chi trả.
Ông Lê Quốc Vinh cho rằng, ở góc nhìn này, di sản cần được nhìn nhận lại như một dạng nguồn vốn. Không phải nguồn vốn vật chất, mà là nguồn vốn văn hóa có khả năng tạo ra giá trị kinh tế nếu được khai thác đúng cách. Và công nghiệp văn hóa, về bản chất, chính là quá trình chuyển hóa nguồn vốn đó thành sản phẩm, dịch vụ và trải nghiệm có giá trị trên thị trường. Ông Lê Quốc Vinh gọi đó là quá trình “chế biến” di sản. Ví như, sử dụng những họa tiết truyền thống thành chất liệu cho thời trang đương đại, những giai điệu dân gian có thể được phối lại trong âm nhạc hiện đại và những vật liệu bản địa có thể được tái hiện trong kiến trúc mới… Đây là sự tiếp nối sáng tạo, giúp di sản giữ được tinh thần cốt lõi, nhưng mang hình hài phù hợp với đời sống đương đại.
Tái hiện điệu "Hát mời rượu" - một trong những làn điệu đặc sắc trong chặng Hát Hội. Những nghệ nhân cao tuổi tại Hùng Lô hiện nay chính là những "báu vật nhân văn sống", lưu giữ kỹ thuật luyến láy và nhịp phách tinh xảo của Xoan cổ. Ảnh: Phương Thảo/TTXVN phát
Bên cạnh đó, thiết kế trải nghiệm di sản thành một dạng dịch vụ có giá trị, từ trải nghiệm ẩm thực truyền thống, đến du lịch văn hóa, lễ hội... Cùng với đó, là công nghiệp hóa nội dung di sản bằng cách đưa vào các ngành công nghiệp sáng tạo như điện ảnh, âm nhạc, game, truyền thông và xuất bản. Khi đó, một câu chuyện dân gian có thể trở thành kịch bản phim, một làn điệu dân ca có thể trở thành sản phẩm âm nhạc đương đại; một lễ hội truyền thống có thể trở thành sản phẩm du lịch hấp dẫn; một câu chuyện lịch sử có thể trở thành kịch bản điện ảnh thu hút hàng triệu khán giả; một yếu tố văn hóa có thể trở thành chất liệu cho sản phẩm giải trí… Và di sản không còn bị giới hạn trong không gian địa lý hay cộng đồng sở hữu, mà có thể lan tỏa ra thị trường toàn cầu như một dạng tài sản nội dung.
Tuy nhiên, ông Lê Quốc Vinh cũng nhấn mạnh, để di sản thực sự trở thành động lực phát triển, điều kiện tiên quyết là nó phải đi vào chuỗi giá trị. Di sản chỉ thực sự sống khi nó bước ra khỏi bảo tàng và tham gia vào hệ sinh thái kinh tế, nơi có thiết kế, thương hiệu, phân phối và thị trường. Nếu thiếu một trong các mắt xích này, giá trị của di sản sẽ bị chặn lại ở những giai đoạn ban đầu và không thể mở rộng…
Kết nổi để “đánh thức” di sản
Ngoài yếu tố kinh tế, di sản còn đóng vai trò quan trọng trong việc định hình bản sắc và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Theo Nghệ sĩ Nhân dân Vương Duy Biên, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam, việc khai thác di sản không chỉ dừng lại ở bảo tồn mà cần hướng tới lan tỏa và quảng bá ra thế giới. Khi bản sắc văn hóa được giữ gìn và phát huy đúng cách, hình ảnh quốc gia sẽ được nâng cao, từ đó tạo sức hút đối với du khách, các nhà sưu tầm, cũng như thúc đẩy sự quan tâm tới các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật của Việt Nam.
Tuy nhiên, Nghệ sĩ Nhân dân Vương Duy Biên cũng cho rằng, vấn đề đặt ra là phải có tư duy đúng để biến những giá trị di sản vốn mang tính “tĩnh” trở thành các sản phẩm sống động, có khả năng lan tỏa, từ đó vừa phát huy giá trị văn hóa, vừa tạo ra lợi ích kinh tế.
Các chuyên gia nhận định, Việt Nam sở hữu một kho tàng di sản phong phú từ ẩm thực, âm nhạc, thủ công mỹ nghệ đến lễ hội và tri thức bản địa. Tuy nhiên, chúng ta lại chưa có một hệ sinh thái đủ mạnh để chuyển hóa nguồn tài nguyên này thành một nền công nghiệp. Điểm nghẽn lớn nhất là thiếu một chuỗi giá trị hoàn chỉnh. Chúng ta có thể mạnh ở khâu sáng tạo ban đầu, nhưng lại yếu ở thương hiệu, phân phối và xuất khẩu. Nhiều sản phẩm sáng tạo dựa trên di sản chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ, hoặc không thể vươn ra thị trường quốc tế, hạ tầng sáng tạo còn hạn chế, nguồn nhân lực có khả năng kết nối giữa văn hóa, thị trường và công nghệ vẫn còn thiếu…
Ông Hà Văn Siêu, Phó Cục trưởng Cục Du lịch quốc gia Việt Nam. Ảnh tư liệu: Đức Phương/TTXVN
Phó Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam Hà Văn Siêu cho rằng, di sản văn hóa là nguồn lực vô tận cho phát triển du lịch văn hóa và tạo sức hút đối với du khách, việc kết nối và phát huy di sản cần được thực hiện theo hướng đa chiều, trong đó du lịch văn hóa không chỉ mang đến những câu chuyện, cảm xúc mà còn tạo ra sự liên kết giữa các di sản với nhau. Mỗi lần du khách quay trở lại, sự kết nối ấy lại được làm mới, qua đó khơi gợi cảm hứng cho những sản phẩm, dịch vụ du lịch sáng tạo.
Ông Hà Văn Siêu đề xuất, cần thúc đẩy sự kết nối giữa cái cũ và cái mới, giữa truyền thống và hiện đại, để di sản được “kể” bằng ngôn ngữ đương đại, gần gũi hơn với công chúng. Việc phát huy giá trị di sản không chỉ dừng lại ở bảo tồn mà phải hướng tới chuyển hóa thành giá trị kinh tế; trong đó, vai trò của nghệ sĩ sáng tạo là đặc biệt quan trọng, giúp “đánh thức” di sản, làm cho di sản sống lại trong đời sống hôm nay. Theo ông Hà Văn Siêu, du lịch chính là kênh hiệu quả để đưa di sản đến gần hơn với xã hội; thông qua du lịch, di sản được biết đến, được quan tâm và thực sự “sống” trong cộng đồng…
Nhận thức rõ vai trò đặc biệt của văn hóa và di sản, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đưa ra những định hướng mang tính chiến lược cho phát triển văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới. Một trong những điểm nhấn quan trọng của Nghị quyết là gắn kết chặt chẽ giữa bảo tồn di sản và phát triển công nghiệp văn hóa. Nghị quyết nêu rõ mục tiêu: Đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp văn hóa; hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp công nghiệp văn hóa, nghệ thuật sáng tạo; xây dựng các tổ hợp sáng tạo văn hóa tầm cỡ quốc tế… Để hiện thực hóa mục tiêu, Nghị quyết đã đề ra nhiều giải pháp đồng bộ: hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng sáng tạo, đào tạo nguồn nhân lực, thúc đẩy chuyển đổi số và huy động nguồn lực xã hội...
Nghệ sĩ Nhân dân Vương Duy Biên nhận định, trong bối cảnh triển khai các chủ trương lớn về phát triển công nghiệp văn hóa, đặc biệt theo tinh thần của Nghị quyết 80, di sản chính là nguồn lực quan trọng để hình thành các sản phẩm văn hóa mang thương hiệu “made in Vietnam” giàu bản sắc, qua đó vừa nâng cao giá trị nghệ thuật, vừa gia tăng hiệu quả kinh tế và sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Nếu làm tốt, di sản không chỉ góp phần bảo tồn giá trị truyền thống, mà còn tạo ra các sản phẩm văn hóa có giá trị kinh tế cao, đóng góp vào mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia có vị thế trong xuất khẩu sản phẩm văn hóa.