07:07 31/07/2026

Để thể thao thực sự đi vào đời sống

Những khoảng sân trong khu dân cư, giờ học thể dục ở trường học hay thói quen vận động của mỗi gia đình sẽ quyết định thành công của các chủ trương phát triển thể dục, thể thao trong giai đoạn mới. Sau khi định hình mục tiêu nâng cao sức khỏe và tầm vóc người Việt, vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để những định hướng lớn được chuyển hóa thành những thay đổi cụ thể trong đời sống hằng ngày.

Chú thích ảnh
Để các mục tiêu về nâng cao thể lực, tầm vóc và sức khỏe cộng đồng đi vào thực tiễn, điều quyết định vẫn là khả năng biến các định hướng lớn thành những điều kiện tập luyện cụ thể ngay tại trường học, khu dân cư và mỗi gia đình. Ảnh: Thanh Tùng/TTXVN

Chuyển biến trong nhận thức

Khoảng 18 giờ, sân sinh hoạt chung của một khu chung cư phía Tây Hà Nội bắt đầu nhộn nhịp. Trên sân bóng rổ, những em nhỏ kiên nhẫn chờ đến lượt tập ném rổ. Dưới khoảng sân lát gạch, nhóm phụ nữ trung niên tập khiêu vũ theo tiếng nhạc phát ra từ chiếc loa nhỏ. Cách đó không xa, vài người đàn ông vừa tan ca đổi vội bộ quần áo công sở để bước vào trận cầu lông quen thuộc, trong khi nhiều cụ già thong thả đi bộ quanh khuôn viên.

Không gian ấy không phải một trung tâm thể thao hiện đại hay một sự kiện được tổ chức theo phong trào. Đó chỉ là khoảng sân chung của khu dân cư, nơi người dân dành một phần thời gian sau giờ học, giờ làm để vận động, gặp gỡ và thư giãn.

Hình ảnh ấy phản ánh một sự thay đổi đang diễn ra trong đời sống xã hội: hoạt động thể chất không còn bó hẹp trong sân vận động hay nhà thi đấu mà từng bước hiện diện ngay trong không gian sinh hoạt hằng ngày của người dân. Đây cũng là đích đến mà nhiều chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước đang hướng tới, khi thể thao được nhìn nhận không chỉ là hoạt động rèn luyện thể lực, còn là nền tảng của chăm sóc sức khỏe chủ động và phát triển con người.

Nếu trước đây, các chính sách về thể dục, thể thao thường được nhắc đến dưới góc độ phát triển phong trào hoặc nâng cao thành tích thi đấu thì trong những năm gần đây, cách tiếp cận đã có sự chuyển dịch rõ rệt. Từ Kết luận số 70-KL/TW của Bộ Chính trị, Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Chỉ thị 354 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đến Nghị quyết 72-NQ/TW về công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, thể thao ngày càng được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với y tế dự phòng, giáo dục và chất lượng nguồn nhân lực.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Hữu Hùng, Trưởng bộ môn Thể dục, Trường Đại học Thể dục Thể thao Bắc Ninh, điều đáng ghi nhận nhất không nằm ở số lượng chính sách được ban hành mà ở sự thay đổi trong tư duy phát triển. Đó là sự chuyển dịch về nhận thức cốt lõi.

Theo ông Hùng, giáo dục thể chất đang dần thoát khỏi cách nhìn là một "môn phụ", còn hoạt động thể thao cũng không chỉ dành cho những người theo đuổi thành tích. Thay vào đó, vận động được xem là một thành tố của hệ thống chăm sóc sức khỏe ngay từ sớm, giúp phòng ngừa bệnh tật, nâng cao thể lực và cải thiện chất lượng cuộc sống.

Sự thay đổi này cũng mở ra những yêu cầu mới đối với ngành giáo dục. Khi chương trình khám sức khỏe định kỳ và sổ sức khỏe điện tử được triển khai rộng hơn, giáo viên giáo dục thể chất sẽ có thêm cơ sở để theo dõi thể trạng của từng học sinh, từ đó lựa chọn cường độ vận động phù hợp thay vì áp dụng một giáo án giống nhau cho tất cả.

Ở góc độ đào tạo, mục tiêu nâng cao tầm vóc thanh thiếu niên không chỉ mang ý nghĩa cải thiện các chỉ số nhân trắc học mà còn góp phần thay đổi nhận thức của các gia đình về vai trò của dinh dưỡng và vận động. Khi sức khỏe được đặt ngang hàng với kết quả học tập, việc đầu tư cho hoạt động thể chất sẽ không còn bị xem là khoản chi phụ, mà trở thành một phần của quá trình phát triển toàn diện trẻ em.

Những chuyển biến ấy cho thấy chính sách đang từng bước tạo ra sự thay đổi trong nhận thức xã hội. Tuy nhiên, nhận thức mới chỉ là điểm khởi đầu. Để các mục tiêu về nâng cao thể lực, tầm vóc và sức khỏe cộng đồng đi vào thực tiễn, điều quyết định vẫn là khả năng biến các định hướng lớn thành những điều kiện tập luyện cụ thể ngay tại trường học, khu dân cư và mỗi gia đình.

Những "điểm nghẽn" cần tháo gỡ

Chú thích ảnh
Thể dục thể thao góp phần nâng cao sức khỏe của người dân ở mọi độ tuổi. Ảnh: Chương Đài/TTXVN

Nếu chuyển biến về nhận thức là tiền đề quan trọng, việc hiện thực hóa các mục tiêu trong Nghị quyết 72-NQ/TW, Kết luận số 70-KL/TW và Chiến lược phát triển thể dục, thể thao lại phụ thuộc vào những điều kiện rất cụ thể ở cơ sở. Thực tiễn cho thấy khoảng cách từ chủ trương đến đời sống vẫn còn không ít rào cản, từ hạ tầng, phương pháp giáo dục đến thói quen của mỗi gia đình.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Hữu Hùng, qua thực tế giảng dạy và nghiên cứu, ba nhóm vấn đề đang tác động trực tiếp đến hiệu quả phát triển thể chất của thế hệ trẻ. Trước hết là thiếu không gian vận động đạt chuẩn. Ở nhiều đô thị, tốc độ đô thị hóa nhanh khiến quỹ đất dành cho trường học và không gian công cộng ngày càng thu hẹp. Không ít trường vẫn tổ chức giờ học thể dục trên những khoảng sân bê tông nhỏ hẹp, thiếu cây xanh, thiếu nhà đa năng, thiếu bể bơi và các trang thiết bị cần thiết. Trong khi đó, tại nhiều khu dân cư, trẻ em vẫn thiếu những sân chơi an toàn để hình thành thói quen vận động hằng ngày. Ông Hùng nêu ý kiến, muốn đạt được các mục tiêu về thể lực và tầm vóc, đầu tư cho thể thao cần bắt đầu từ những thiết chế gần dân nhất, thay vì chỉ tập trung vào các công trình quy mô lớn phục vụ thi đấu.

Một rào cản khác là áp lực học tập đang làm thu hẹp thời gian vận động của học sinh. Trong nhiều gia đình, việc học văn hóa vẫn được ưu tiên gần như tuyệt đối. Thời gian dành cho học thêm ngày càng nhiều, trong khi hoạt động thể chất thường bị cắt giảm đầu tiên. Điều đó khiến không ít học sinh rơi vào tình trạng ít vận động, căng thẳng kéo dài và thiếu các kỹ năng vận động cơ bản. Theo ông Hùng, đây không chỉ là câu chuyện của ngành giáo dục còn phản ánh nhận thức của xã hội về sự phát triển toàn diện của trẻ em. Sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần cần được quan tâm ngang với thành tích học tập.

Bên cạnh đó, cách đánh giá môn Giáo dục thể chất ở nhiều nơi cũng cần được đổi mới. Thực tế cho thấy việc chấm điểm vẫn chủ yếu dựa trên các chỉ số thành tích như chạy, bật xa hay ném bóng. Cách tiếp cận này khiến những học sinh có thể lực yếu dễ mặc cảm, thiếu động lực rèn luyện, trong khi mục tiêu của giáo dục thể chất phải là giúp mỗi học sinh khỏe hơn qua từng giai đoạn phát triển.

"Điều cần ghi nhận không phải ai khỏe nhất lớp, mà là mỗi em khỏe hơn chính mình của ngày hôm qua", Tiến sĩ Nguyễn Hữu Hùng nói thêm.

Theo nhiều chuyên gia, khi dữ liệu sức khỏe điện tử được triển khai đồng bộ, việc đánh giá hoàn toàn có thể chuyển sang theo dõi quá trình tiến bộ của từng học sinh, thay vì áp dụng một chuẩn chung cho tất cả.

Ở góc độ y học thể thao, Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Mạnh Thắng, Chủ tịch Hội Y học thể thao Việt Nam cho rằng, những mục tiêu về nâng cao sức khỏe cộng đồng sẽ khó đạt được nếu người dân không có điều kiện duy trì thói quen vận động thường xuyên.

"Điều quan trọng nhất không phải là xây thêm bao nhiêu công trình thể thao, mà là giúp người dân hình thành được thói quen vận động hằng ngày. Thể thao cần được nhìn nhận như một giải pháp của y tế dự phòng. Khi hoạt động thể chất trở thành nếp sống, nguy cơ mắc các bệnh không lây nhiễm sẽ giảm, chất lượng dân số được nâng lên và áp lực đối với hệ thống y tế cũng giảm theo”, Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Mạnh Thắng nhận định.

Chú thích ảnh
Các vận động viên tham gia giải chạy "Việt Nam tôi đó 2025". Ảnh: Thành Phương/TTXVN

Từ thực tiễn đó, các chuyên gia cho rằng cần triển khai đồng thời nhiều giải pháp. Trước hết là tiếp tục xã hội hóa hạ tầng thể thao, tạo cơ chế để trường học liên kết với các trung tâm thể thao, hồ bơi và cơ sở tập luyện tư nhân; đồng thời khai thác hiệu quả các nhà văn hóa, sân sinh hoạt cộng đồng và không gian công cộng phục vụ người dân. Song song với đó là đẩy nhanh chuyển đổi số trong giáo dục thể chất, kết nối dữ liệu từ sổ sức khỏe điện tử với quá trình rèn luyện của học sinh để giáo viên có cơ sở xây dựng chương trình vận động phù hợp với từng thể trạng.

Quan trọng hơn cả là đổi mới cách tổ chức hoạt động thể chất trong nhà trường. Giờ học thể dục cần trở thành khoảng thời gian học sinh được vận động, hợp tác, giải tỏa áp lực và hình thành niềm yêu thích thể thao, thay vì chỉ tập trung hoàn thành các bài kiểm tra thể lực.

Có lẽ, thành công của những chủ trương lớn về phát triển thể dục, thể thao sẽ không được đo bằng số lượng văn bản được ban hành hay những công trình được khánh thành, mà bằng việc ngày càng nhiều người chủ động dành thời gian để vận động sau mỗi ngày làm việc, ngày càng nhiều trường học coi giáo dục thể chất là một phần của giáo dục toàn diện và ngày càng nhiều gia đình xem sức khỏe là nền tảng của tương lai. Khi đó, thể thao sẽ không chỉ là một phong trào, mà thực sự trở thành một phần tự nhiên của đời sống, đúng như mục tiêu mà các nghị quyết và chiến lược phát triển đang hướng tới.

Nam Sương (TTXVN)