Việc đầu tư đồng bộ hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia đang được xác định là bước đi then chốt nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi và tạo đột phá trong các lĩnh vực chiến lược, góp phần thúc đẩy tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo Nghị quyết 57.
Hạ tầng lạc hậu, phân tán nguồn lực
Theo đánh giá hiện trạng, cả nước hiện có 16 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia được đầu tư trong các giai đoạn trước, tập trung vào 7 lĩnh vực ưu tiên như công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, vật liệu, cơ khí – tự động hóa, hóa dầu, năng lượng và một số lĩnh vực khoa học công nghệ khác. Đây từng là nền tảng quan trọng phục vụ nghiên cứu, thử nghiệm và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
Phòng thí nghiệm vi mạch và hệ thống cao tần có hệ thống thiết bị hiện đại và đồng bộ đáp ứng yêu cầu nghiên cứu thực hiện thiết kế các vi mạch tần số cao. Ảnh: Thu Hoài/TTXVN
Tuy nhiên, phần lớn các phòng thí nghiệm hiện nay đã lạc hậu từ 2–3 thế hệ so với trình độ quốc tế. Sự tụt hậu này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nghiên cứu mà còn làm giảm khả năng tiếp cận các xu hướng công nghệ mới, đặc biệt trong bối cảnh các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học hay vật liệu tiên tiến đang phát triển nhanh chóng.
Bên cạnh đó, các phòng thí nghiệm chất lượng cao phân bố rải rác, thiếu sự liên kết và chia sẻ hạ tầng. Điều này dẫn đến tình trạng phân tán nguồn lực, đầu tư dàn trải, hiệu quả khai thác chưa tương xứng với tiềm năng. Một số nơi còn gặp khó khăn trong duy tu, bảo dưỡng thiết bị do thiếu kinh phí thường xuyên, trong khi quá trình mua sắm kéo dài khiến thiết bị nhanh chóng lỗi thời.
Những bất cập này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tái cấu trúc hệ thống theo hướng tập trung, có trọng điểm và gắn với chiến lược phát triển công nghệ quốc gia.
Định hình hệ sinh thái nghiên cứu phục vụ công nghệ chiến lược
Giai đoạn 2026–2030 được xác định là thời kỳ then chốt để Việt Nam tạo bước đột phá về năng lực công nghệ nội sinh. Theo đó, trọng tâm sẽ là đầu tư xây dựng, nâng cấp và vận hành hiệu quả hệ thống gồm 9 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia và 3 trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm tập trung. Nội dung này đã được Bộ Khoa học và Công nghệ trình Thủ tướng Chính phủ tại Tờ trình số 02/TTr-BKHCN ngày 8/1/2026, nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Điểm đáng chú ý là cách tiếp cận mới không còn dàn trải mà lựa chọn 12 đơn vị hạt nhân để tập trung nguồn lực đầu tư đồng bộ, phục vụ trực tiếp cho 11 công nghệ chiến lược quốc gia. Đây được xem là bước chuyển quan trọng, nhằm tạo ra các “cực tăng trưởng” về khoa học công nghệ, từ đó lan tỏa sang các ngành, lĩnh vực khác.
Cùng với đó, cơ chế tài chính đặc thù cũng sẽ được áp dụng, trong đó Nhà nước bảo đảm 100% kinh phí chi thường xuyên trong 5 năm đầu vận hành. Chính sách này nhằm tháo gỡ điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là thiếu nguồn lực duy trì hoạt động ổn định và hiệu quả của các phòng thí nghiệm.
Ngoài ra, mục tiêu hình thành 20 nhóm nghiên cứu mạnh và đào tạo khoảng 300 tiến sĩ gắn với các dự án đầu tư trọng điểm cho thấy định hướng phát triển không chỉ dừng ở hạ tầng mà còn chú trọng xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao – yếu tố quyết định năng lực đổi mới sáng tạo.
Danh mục đầu tư trọng điểm
Danh mục các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm và phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia trong giai đoạn 2026–2030 được xây dựng theo hướng cụ thể hóa trách nhiệm, nguồn lực và tiến độ triển khai, bảo đảm tính khả thi và hiệu quả đầu tư.
Ở cấp trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm quốc gia, ba dự án trọng điểm được ưu tiên triển khai trong giai đoạn 2026–2027, với mức đầu tư lớn từ 1.000 – 1.500 tỷ đồng mỗi trung tâm.
Cụ thể, Trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm quốc gia về thiết bị bay không người lái (UAV) do Bộ Quốc phòng và Bộ Khoa học và Công nghệ đồng chủ trì, phối hợp cùng các bộ, ngành và địa phương liên quan triển khai, dự kiến thực hiện trong giai đoạn 2026–2027, với tổng mức đầu tư từ 1.000 – 1.500 tỷ đồng.
Trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm quốc gia về công nghệ sinh học và y sinh do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế và các bộ, ngành, địa phương, cũng được triển khai trong giai đoạn 2026–2027, với mức đầu tư tương đương từ 1.000 – 1.500 tỷ đồng.
Trong khi đó, Trung tâm tính toán hiệu năng cao (HPC) và các trung tâm dữ liệu quốc gia phục vụ phát triển trí tuệ nhân tạo do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp cùng các bộ, ngành, địa phương, dự kiến triển khai trong giai đoạn 2026–2027, với mức đầu tư từ 1.000 – 1.500 tỷ đồng, đóng vai trò hạ tầng cốt lõi cho phát triển AI và kinh tế số.
Ở cấp phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, 9 dự án được triển khai theo hai giai đoạn, với mức đầu tư trung bình khoảng 500 tỷ đồng mỗi phòng. Trong giai đoạn 2026–2027, bốn phòng thí nghiệm sẽ được ưu tiên triển khai sớm.
Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về trí tuệ nhân tạo, mô hình nền và dữ liệu lớn do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng cùng các bộ, ngành, địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp, dự kiến triển khai trong giai đoạn 2026–2027, với kinh phí khoảng 500 tỷ đồng.
Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về hạ tầng số, mạng 5G/6G, an ninh mạng quốc gia và blockchain do Bộ Công an và Bộ Khoa học và Công nghệ đồng chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, triển khai trong giai đoạn 2026–2027, với mức đầu tư khoảng 500 tỷ đồng.
Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về công nghệ robot và tự động hóa thông minh do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các bộ, ngành, địa phương, triển khai trong giai đoạn 2026–2027, với kinh phí khoảng 500 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, một số dự án có tính cấp thiết cao cũng được xem xét triển khai sớm nhằm phục vụ trực tiếp cho các ngành công nghiệp ưu tiên. Trong giai đoạn 2027–2030, các phòng thí nghiệm còn lại sẽ được triển khai đồng bộ.
Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về công nghệ sinh học tiên tiến, y học chính xác và Bioeconomy do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế và các bộ, ngành, địa phương, triển khai trong giai đoạn 2027–2030, với mức đầu tư khoảng 500 tỷ đồng.
Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về vật liệu tiên tiến, công nghệ nano, lượng tử và quang tử do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương và các bộ, ngành, địa phương, triển khai trong giai đoạn 2027–2030, kinh phí khoảng 500 tỷ đồng.
Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về công nghệ năng lượng tái tạo, hydro xanh và công nghệ thu giữ, lưu trữ carbon (CCUS) do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương cùng các bộ, ngành, địa phương, triển khai trong giai đoạn 2027–2030, với mức đầu tư khoảng 500 tỷ đồng.
Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về hệ sinh thái lương thực, nông nghiệp thông minh và công nghệ thực phẩm do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các bộ, ngành, địa phương, triển khai trong giai đoạn 2027–2030, kinh phí khoảng 500 tỷ đồng.
Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về không gian, viễn thám và hệ thống quan trắc khí hậu – thiên tai do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cùng các bộ, ngành, địa phương, triển khai trong giai đoạn 2027–2030, với mức đầu tư khoảng 500 tỷ đồng.
Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về đất hiếm, tài nguyên chiến lược và biển sâu do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các bộ, ngành, địa phương, triển khai trong giai đoạn 2027–2030, kinh phí khoảng 500 tỷ đồng.
Các dự án này đều có quy mô đầu tư lớn, với mức kinh phí trung bình từ 500 tỷ đồng đối với mỗi phòng thí nghiệm và từ 1.000–1.500 tỷ đồng đối với mỗi trung tâm nghiên cứu . Thời gian triển khai được chia thành hai giai đoạn, trong đó một số lĩnh vực cấp bách sẽ hoàn thành sớm trong giai đoạn 2026–2027.
Kỳ vọng tạo bước ngoặt về năng lực đổi mới sáng tạo
Việc tái cấu trúc và đầu tư có trọng tâm hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia không chỉ nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu, thử nghiệm đạt chuẩn quốc tế, mà còn hướng tới mục tiêu lớn hơn là nâng cao vị thế của Việt Nam trên bản đồ khoa học công nghệ toàn cầu.
Theo định hướng, Việt Nam phấn đấu nằm trong nhóm 3 quốc gia dẫn đầu ASEAN về Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu. Để đạt được mục tiêu này, hạ tầng khoa học công nghệ hiện đại, đồng bộ và hiệu quả là điều kiện tiên quyết.
Quan trọng hơn, cách tiếp cận mới – gắn đầu tư hạ tầng với công nghệ chiến lược, cơ chế tài chính đặc thù và phát triển nguồn nhân lực – được kỳ vọng sẽ khắc phục những hạn chế kéo dài trong nhiều năm, từ đó tạo ra hệ sinh thái nghiên cứu – đổi mới sáng tạo thực sự hiệu quả.
Trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ ngày càng gay gắt, việc “đi tắt đón đầu” thông qua đầu tư có chọn lọc và tập trung sẽ là chìa khóa để Việt Nam không chỉ bắt kịp mà còn từng bước vươn lên làm chủ các công nghệ lõi, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh quốc gia trong dài hạn.