TS Hà Đăng Sơn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng và Tăng trưởng xanh khẳng định: “Nếu thiếu các ‘trụ cột’ là doanh nghiệp Nhà nước (DNNN), việc đảm bảo cung ứng năng lượng liên tục sẽ gặp rất nhiều rủi ro”.
Không chỉ kinh doanh mà còn thực hiện nhiệm vụ chính trị
Biến động giá năng lượng không chỉ làm tăng chi phí sản xuất mà còn tác động trực tiếp đến lạm phát và đời sống người dân. Vì vậy, việc xây dựng một hệ thống phòng thủ vững chắc không chỉ là nhiệm vụ của ngành Năng lượng mà còn là nền tảng cho ổn định kinh tế vĩ mô.
Sản lượng tại Nhà máy Lọc dầu Dung Quất tăng 10,5%, đủ nguyên liệu sản xuất đến hết tháng 4, đầu tháng 5/2026. Ảnh: Trần Việt/TTXVN
Ngay từ sớm, khi xung đột Trung Đông chưa xảy ra, ngày 3/9/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 70-NQ/TW, xác định “bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia là nền tảng, năng lượng phải đi trước một bước”. Khi khủng hoảng năng lượng gia tăng trong quý I/2026, Bộ Chính trị tiếp tục ban hành Kết luận số 14-KL/TW (ngày 20/3) nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm nguồn cung xăng dầu trong mọi tình huống, không để gián đoạn chuỗi cung ứng.
Ở góc độ doanh nghiệp, Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) và các đơn vị thành viên như: Công ty CP Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR), Tổng công ty Dầu Việt Nam (PVOIL), Tổng công ty Khí Việt Nam (PV GAS)… hay các doanh nhiệp là Petrolimex, Tổng công ty Xăng dầu Quân đội (MIPEC) … đã chủ động xây dựng kịch bản ứng phó, điều tiết nguồn cung, đa dạng hóa nhập khẩu và duy trì vận hành ở công suất cao nhưng vẫn bảo đảm an toàn.
“Những Tập đoàn lớn như Petrovietnam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) hay Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) không chỉ hoạt động theo logic thị trường mà còn phải thực hiện nhiệm vụ chính trị là đảm bảo an ninh năng lượng Quốc gia. |Từ thực tế, nhiều nhà đầu tư tư nhân dừng hoặc giãn tiến độ dự án khi rủi ro tăng, vì vậy phía DNNN hiện được xem là lực lượng duy nhất có thể đảm bảo các dự án năng lượng không bị đứt gãy”, TS Hà Đăng Sơn chia sẻ.
Trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu và yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng ngày càng cấp thiết, nhiều chuyên gia kinh tế khẳng định: Nghị quyết 79-NQ/TW đã đặt ra định hướng chiến lược mới đối với khu vực DNNN. Không chỉ nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, các DNNN được xác lập vai trò tiên phong trong những lĩnh vực then chốt, dẫn dắt thị trường, mở đường cho các nguồn năng lượng mới, góp phần giữ vững ổn định vĩ mô.
Tại Hội thảo “Biến động địa chính trị và chiến lược đảm bảo an ninh năng lượng” diễn ra mới đây, TS Hà Đăng Sơn cho rằng, đảm bảo an ninh năng lượng không chỉ là bài toán đầu tư, mà còn là vấn đề lựa chọn mô hình phát triển phù hợp, trong đó khu vực DNNN vẫn giữ vai trò đặc biệt quan trọng.
Theo TS Hà Đăng Sơn, Việt Nam đang đứng trước nhiều sức ép, khi vừa phải đảm bảo cung ứng năng lượng ổn định cho nền kinh tế, vừa phải thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải và chuyển dịch năng lượng. Đây là một bài toán không dễ, bởi trong khi nhu cầu năng lượng ngày càng tăng, khả năng tự chủ lại còn hạn chế, phụ thuộc lớn vào nhập khẩu.
Trong bối cảnh đó, câu chuyện đầu tư vào các dự án năng lượng, đặc biệt những dự án quy mô lớn, có tính chất nền tảng, đang đặt ra nhiều thách thức. Theo TS Hà Đăng Sơn, khu vực tư nhân dù được khuyến khích mạnh mẽ nhưng nguyên tắc hoạt động vẫn là hiệu quả kinh tế. “Khi rủi ro cao, lợi nhuận không rõ ràng, doanh nghiệp tư nhân có xu hướng rút lui hoặc trì hoãn đầu tư. Điều này đã được chứng minh qua thực tế khi nhiều nhà đầu tư sẵn sàng dừng hoặc giãn tiến độ dự án nếu điều kiện thị trường không thuận lợi”, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng và Tăng trưởng xanh cho biết.
TS Hà Đăng Sơn nêu dẫn chứng, trong nhiều trường hợp, dù hiệu quả tài chính không cao, thậm chí rủi ro lớn, các DNNN vẫn phải triển khai dự án theo yêu cầu của Chính phủ để đảm bảo cung ứng điện, xăng dầu và các nguồn năng lượng thiết yếu. Đây là điều mà khu vực tư nhân khó có thể đảm nhận.
Cân bằng giữa chuyển dịch xanh và an ninh năng lượng
Bên cạnh vai trò của DNNN, TS Hà Đăng Sơn cũng đề cập đến bài toán chuyển dịch năng lượng. Theo đó, việc hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” là cần thiết, nhưng lộ trình thực hiện cần phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.
Theo TS Hà Đăng Sơn, không thể đặt toàn bộ kỳ vọng vào năng lượng tái tạo mà cần một chiến lược cân bằng, đa dạng hóa nguồn cung, kết hợp giữa các nguồn truyền thống và năng lượng sạch. Đồng thời, cần đầu tư nâng cấp hệ thống lưới điện và hạ tầng năng lượng để đảm bảo khả năng điều tiết và ổn định hệ thống. Một vấn đề khác được ông nhấn mạnh là sự phụ thuộc ngày càng lớn vào nhập khẩu năng lượng. Nếu không có các giải pháp phù hợp, rủi ro từ bên ngoài sẽ ngày càng gia tăng. Vì vậy, cần rà soát lại các chiến lược và quy hoạch năng lượng, giảm dần phụ thuộc vào nhập khẩu, đồng thời nâng cao năng lực tự chủ trong dài hạn.
Về trung và dài hạn, nhiều ý kiến cho rằng, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, tạo cơ chế phù hợp để phát huy vai trò của cả khu vực Nhà nước và tư nhân, nhưng trong đó DNNN vẫn là lực lượng nòng cốt trong những lĩnh vực then chốt của ngành năng lượng.
TS. Hà Huy Ngọc, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới (người ngồi giữa). Ảnh: BTC
Trong bối cảnh hiện nay, TS. Hà Huy Ngọc, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới đề xuất một loạt giải pháp chính sách. Trong đó, nhấn mạnh việc xây dựng các kịch bản ứng phó linh hoạt, đảm bảo nguồn cung xăng dầu, đa dạng hóa thị trường nhập khẩu và tăng cường kiểm soát thị trường để ngăn chặn đầu cơ, găm hàng. Đồng thời, Việt Nam cần đẩy nhanh xây dựng các kho dự trữ dầu thô chiến lược, phát triển ngoại giao năng lượng và thúc đẩy sử dụng nhiên liệu sinh học như: E5, E10 nhằm giảm phụ thuộc vào xăng dầu truyền thống.
Bên cạnh đó, việc điều hành chính sách tài khóa và tiền tệ cần được phối hợp chặt chẽ để vừa kiểm soát lạm phát, vừa hỗ trợ tăng trưởng. Các chính sách thuế đối với xăng dầu cũng cần linh hoạt theo diễn biến thị trường nhằm giảm áp lực chi phí cho doanh nghiệp.
“Về dài hạn, câu chuyện an ninh năng lượng tiếp tục là vấn đề then chốt. Việt Nam cần đẩy mạnh phát triển các nguồn năng lượng tái tạo, đồng thời tháo gỡ vướng mắc để sớm đưa các dự án điện gió, điện mặt trời vào vận hành, bổ sung nguồn cung trong bối cảnh rủi ro gián đoạn từ bên ngoài ngày càng lớn”, TS. Hà Huy Ngọc đề xuất.
Nội dung chính của Nghị quyết 79 làm rõ vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước trong các ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược; đồng thời khẳng định chức năng dẫn dắt, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất đối với DNNN nói chung và Petrovietnam nói riêng chính là cân bằng giữa hiệu quả kinh doanh và nhiệm vụ chính trị - xã hội.
Trong cơ chế thị trường đầy đủ, doanh nghiệp sẽ ưu tiên dự án có tỷ suất sinh lời cao và rủi ro thấp. Nhưng thực tế, nhiều dự án năng lượng mang ý nghĩa chiến lược lại chưa đạt tiêu chuẩn tài chính hấp dẫn ở giai đoạn đầu. Nếu thiếu cơ chế phù hợp, doanh nghiệp có thể rơi vào thế lưỡng nan hoặc chạy theo lợi nhuận ngắn hạn, hoặc chấp nhận rủi ro lớn mà không có công cụ bảo vệ.
Vì vậy, theo các chuyên gia kinh tế, để Nghị quyết 79 đi vào cuộc sống hiệu quả và thực chất, Việt Nam cần xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù và chương trình hành động cụ thể, tập trung hoàn thiện thể chế, tháo gỡ điểm nghẽn trong tiếp cận nguồn lực, cải thiện môi trường kinh doanh và có chính sách thu hút, bảo vệ nhân sự dám đổi mới.
Cùng với đó, cơ chế tài chính linh hoạt hơn, cho phép giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư; cơ chế chia sẻ rủi ro đối với dự án LNG và điện gió ngoài khơi; thị trường điện minh bạch, vận hành đầy đủ; quy định rõ ràng về quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp, là những điều kiện không thể thiếu.
Nếu chỉ giao nhiệm vụ mà không trao đủ công cụ, DNNN khó hoàn thành vai trò dẫn dắt. Ngược lại, nếu trao quyền mà thiếu cơ chế giám sát hiệu quả, nguy cơ lãng phí nguồn lực sẽ xuất hiện. Do đó, tinh thần của Nghị quyết 79 cần được hiểu là nâng cao quản trị hiện đại song hành với tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình.
Đề cập về việc Xây dựng kho dự trữ xăng dầu Quốc gia là yêu cầu cấp bách, TS. Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam cho rằng, về mặt kỹ thuật và vận hành, việc xây dựng kho dự trữ không quá phức tạp, thời gian triển khai trong khoảng 24 - 30 tháng. Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi hiện nay nằm ở cơ chế chính sách, đặc biệt cơ chế thu hút đầu tư và phương thức vận hành hiệu quả. Nếu tháo gỡ được các điểm nghẽn này, việc phát triển hệ thống dự trữ hoàn toàn có thể được thúc đẩy nhanh chóng.
“Cần tái cấu trúc chiến lược năng lượng quốc gia theo hướng đa dạng hóa nguồn cung, tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo như điện gió, điện mặt trời; đồng thời phát triển hệ thống lưu trữ năng lượng và nâng cao năng lực điều tiết. Bên cạnh đó, ngoại giao năng lượng cần được thúc đẩy, trở thành một nội hàm quan trọng trong quan hệ với các đối tác chiến lược nhằm bảo đảm nguồn cung ổn định trong dài hạn”, TS. Nguyễn Quốc Thập nhấn mạnh.
TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách của Thủ tướng:
Kho dự trữ xăng dầu, “tấm đệm” cho nền kinh tế
Việc xây dựng hệ thống dự trữ xăng dầu chiến lược Quốc gia là yêu cầu mang tính nền tảng. Đây là vấn đề đã được đặt ra từ nhiều năm trước nhưng tiến độ triển khai còn chậm do những rào cản về vốn đầu tư, chi phí vận hành và cơ chế chính sách. Thách thức không chỉ nằm ở việc xây dựng kho dự trữ, mà còn ở việc lựa chọn mô hình đầu tư và vận hành hiệu quả.
Việt Nam cần nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế; đồng thời xem xét khả năng huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân nhằm tối ưu hóa chi phí và bảo đảm hiệu quả lâu dài. Trong bối cảnh thị trường năng lượng biến động khó lường, hệ thống dự trữ chiến lược không chỉ là “tấm đệm” an toàn mà còn là công cụ điều tiết thị trường quan trọng.