01:12 22/01/2026

Đại hội XIV của Đảng: Giữ kỷ cương ngân sách, mở đường cho tăng trưởng

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và sự điều hành chủ động, linh hoạt của Bộ Tài chính, chính sách tài khóa đã phát huy vai trò trụ cột, góp phần quan trọng ổn định kinh tế vĩ mô và tạo nền tảng cho phát triển nhanh, bền vững.

Chú thích ảnh
Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN

Giai đoạn 2021 - 2025 ghi dấu một chặng đường nhiều thử thách nhưng cũng rất đặc biệt của ngành tài chính Việt Nam. Trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động khó lường, dịch bệnh, xung đột địa chính trị, lạm phát toàn cầu và đứt gãy chuỗi cung ứng đã tạo sức ép lớn lên mọi nền kinh tế, việc giữ vững ổn định tài chính ngân sách nhà nước, đồng thời tạo dư địa cho phục hồi và tăng trưởng, trở thành nhiệm vụ chưa từng có tiền lệ của ngành. Tuy nhiên, với sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và sự điều hành chủ động, linh hoạt của Bộ Tài chính, chính sách tài khóa đã phát huy vai trò trụ cột, góp phần quan trọng ổn định kinh tế vĩ mô và tạo nền tảng cho phát triển nhanh, bền vững.

Nhìn lại 5 năm qua, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng khẳng định, nhiệm vụ tài chính ngân sách nhà nước được triển khai trong bối cảnh “nhiều biến động khó lường, đặt ra không ít khó khăn, thách thức”, song nhờ sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và sự chỉ đạo điều hành quyết liệt, ngành tài chính đã hoàn thành toàn bộ các chỉ tiêu chủ yếu giai đoạn 2021–2025. Các nguồn lực tài chính ngân sách nhà nước được quản lý, huy động và sử dụng ngày càng hiệu quả, đóng góp trực tiếp vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh và củng cố niềm tin của doanh nghiệp, người dân.

Một trong những kết quả nổi bật nhất là việc duy trì ổn định các cân đối lớn của nền kinh tế. Trong suốt giai đoạn 2021–2025, chính sách tài khóa được điều hành theo hướng chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ, qua đó góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường và hỗ trợ tăng trưởng. Bội chi ngân sách nhà nước bình quân khoảng 3,1–3,2% GDP, thấp hơn ngưỡng Quốc hội cho phép; nợ công duy trì quanh mức 35–36% GDP, được kiểm soát tốt và nằm trong giới hạn an toàn.

Theo đánh giá của nhiều tổ chức quốc tế, các chỉ tiêu này đã góp phần quan trọng nâng cao uy tín, cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia và giảm chi phí huy động vốn cho nền kinh tế.

Song hành với điều hành ngân sách, hệ thống pháp luật về tài chính ngân sách được tập trung hoàn thiện. Trong 5 năm qua, Bộ Tài chính đã trình ban hành hàng chục luật, nghị quyết, hàng trăm nghị định và thông tư, tập trung tháo gỡ những “điểm nghẽn” tồn tại lâu nay, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính. Theo Bộ trưởng Nguyễn Văn Thắng, đây là nền tảng quan trọng để chính sách tài khóa không chỉ phản ứng trước khó khăn trước mắt mà còn tạo khuôn khổ cho phát triển dài hạn, phù hợp yêu cầu của giai đoạn mới.

Quản lý thu ngân sách nhà nước tiếp tục được tăng cường theo hướng bền vững. Tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước bình quân 5 năm đạt khoảng 18,3% GDP, cao hơn mục tiêu đề ra, trong khi cơ cấu thu chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng thu nội địa, giảm dần phụ thuộc vào các nguồn thu không bền vững. Đáng chú ý, trong bối cảnh khó khăn do đại dịch và suy giảm kinh tế toàn cầu, ngành tài chính vẫn triển khai các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí với quy mô lớn, tổng cộng khoảng 1,1 triệu tỷ đồng để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân phục hồi sản xuất, kinh doanh. Theo đánh giá của giới chuyên gia, đây là sự lựa chọn khó khăn nhưng cần thiết, thể hiện rõ vai trò “đệm đỡ” của chính sách tài khóa trong giai đoạn khủng hoảng.

Bà Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam cho biết, để hỗ trợ doanh nghiệp, người dân vượt qua khó khăn từ các tác động bên trong lẫn bên ngoài, Bộ Tài chính đã chủ động trình Quốc hội, Chính phủ ban hành nhiều chính sách từ gia hạn thời hạn nộp một số loại thuế, phí, tiền thuê đất đến miễn giảm thuế với số tiền lên đến hàng trăm nghìn tỷ đồng. Đây là những chính sách được ban hành rất kịp thời và phù hợp.

Ở chiều chi ngân sách, kỷ luật tài khóa được duy trì nghiêm túc, song vẫn bảo đảm tính linh hoạt để đáp ứng các yêu cầu cấp bách. Ngành tài chính đã thực hiện tăng thu, tiết kiệm chi khoảng 1,5 triệu tỷ đồng, để bổ sung nguồn lực cho đầu tư phát triển, quốc phòng, an ninh, khoa học công nghệ, cải cách tiền lương, an sinh xã hội, xóa nhà dột nát và xây dựng trường học tại các vùng biên giới. Tỷ lệ chi đầu tư phát triển tăng lên khoảng 32% tổng chi ngân sách nhà nước, tập trung cho các dự án hạ tầng chiến lược, liên vùng, có sức lan tỏa lớn. Nhiều công trình trọng điểm quốc gia được đẩy nhanh tiến độ, mở ra không gian phát triển mới và tạo động lực tăng trưởng cho cả nền kinh tế.

Môi trường đầu tư, kinh doanh cũng ghi nhận những cải thiện rõ nét. Đến năm 2025, cả nước có trên 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, tăng hơn 46% so với năm 2020. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2021–2025 đạt khoảng 32,2% GDP; trong đó khu vực tư nhân và doanh nghiệp nhà nước chiếm trên 65%, cho thấy niềm tin của khu vực doanh nghiệp trong nước từng bước được củng cố. Việt Nam tiếp tục là điểm sáng trong thu hút đầu tư nước ngoài, thuộc nhóm 15 quốc gia đang phát triển thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn nhất thế giới, với vốn FDI đóng góp khoảng 16% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.

Một điểm nhấn quan trọng khác là sự phát triển của các thị trường vốn. Đến cuối năm 2025, quy mô thị trường trái phiếu đạt khoảng 3,93 triệu tỷ đồng, tương đương 30,7% GDP; vốn hóa thị trường chứng khoán đạt gần 10 triệu tỷ đồng, tương đương 77,9% GDP. Đặc biệt, việc thị trường chứng khoán Việt Nam được nâng hạng từ cận biên lên mới nổi trong năm 2025 được xem là cột mốc lớn, mở ra cơ hội thu hút dòng vốn trung và dài hạn, giảm áp lực cho ngân sách và hệ thống tín dụng ngân hàng.

Bước sang thời gian tới, yêu cầu đặt ra với ngành tài chính ngày càng cao khi mục tiêu không chỉ là ổn định mà còn phải dẫn dắt tăng trưởng nhanh và bền vững. Theo định hướng giai đoạn 2026–2030, ngành tài chính phấn đấu bảo đảm tỷ lệ huy động ngân sách nhà nước khoảng 18% GDP; tăng chi đầu tư phát triển lên khoảng 40% tổng chi ngân sách; quản lý chặt chẽ bội chi và nợ công phù hợp khả năng vay, trả nợ của nền kinh tế, qua đó tiếp tục cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia.

Theo Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Thành Trung, chính sách tài khóa cần tiếp tục đóng vai trò kiến tạo tăng trưởng dài hạn, được điều hành chủ động, bền vững và có trọng tâm, trọng điểm. Trọng tâm là cơ cấu lại chi ngân sách theo hướng nâng cao tỷ trọng chi đầu tư phát triển, tập trung cho hạ tầng chiến lược, hạ tầng số, năng lượng và chuyển đổi xanh; đồng thời phát triển thị trường vốn trở thành trụ cột huy động nguồn lực trung và dài hạn, giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.

Các chuyên gia kinh tế cho rằng, để các định hướng điều hành tài khóa giai đoạn tới thực sự đi vào cuộc sống, việc hoàn thiện thể chế và phát triển đồng bộ các thị trường tài chính có ý nghĩa then chốt trong việc khơi thông và dẫn dắt nguồn lực cho tăng trưởng.

Theo TS. Cấn Văn Lực, đẩy nhanh hoàn thiện thể chế tài chính, đặc biệt là khung pháp lý cho các mô hình mới như tài chính xanh, thị trường carbon và trung tâm tài chính, cùng với việc phát triển thị trường vốn minh bạch, từng bước nâng hạng thị trường chứng khoán sẽ góp phần mở rộng các kênh huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Bên cạnh đó, việc giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ sẽ là điều kiện quan trọng để khơi thông các nguồn lực xã hội, tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững và mở rộng nguồn thu ngân sách trong trung và dài hạn.

Bộ trưởng Nguyễn Văn Thắng cho biết, ngành tài chính sẽ tập trung triển khai chính sách tài khóa chủ động, mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm; củng cố vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương, đồng thời phát huy tính chủ động, sáng tạo của các bộ, ngành, địa phương. Việc phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tiếp tục được coi là chìa khóa để giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số trong dài hạn. Cùng với đó, ngành đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số trong lĩnh vực tài chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý thu chi ngân sách.

Đồng thời, nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế nhà nước, thực sự phát huy vai trò chủ đạo, tiên phong trong các ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu, chiến lược. Cùng với đó, phát triển mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân; phấn đấu đến năm 2030 Việt Nam có khoảng 2 triệu doanh nghiệp hoạt động; trình độ công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN và châu Á.

Ngoài ra, ngành tài chính phát triển các thị trường vốn, thị trường chứng khoán trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng; khai thác hiệu quả cơ hội từ nâng hạng thị trường chứng khoán; hoàn thiện hành lang pháp lý cho các xu hướng mới như tài sản số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số.

Đặc biệt, thu hút FDI có chọn lọc, ưu tiên các dự án quy mô lớn, công nghệ cao, thân thiện với môi trường; tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng toàn cầu.

Với những thành tựu đã đạt được trong giai đoạn 2021–2025 và định hướng điều hành rõ ràng cho chặng đường tiếp theo, các chuyên gia kinh tế kỳ vọng ngành tài chính tiếp tục giữ vai trò “xương sống” của nền kinh tế, không chỉ bảo đảm kỷ cương ngân sách mà còn kiến tạo động lực tăng trưởng, hướng tới một nền tài chính quốc gia hiện đại, minh bạch, công bằng và phát triển bền vững trong giai đoạn mới.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV là sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, có ý nghĩa định hướng chiến lược đối với sự phát triển của Việt Nam trong giai đoạn mới. Các thông tin chính thống, đầy đủ và cập nhật về Đại hội được đăng tải tại trang thông tin điện tử Đại hội Đảng: https://daihoidang.vn
Thùy Dương (TTXVN)